MỞ ĐẦU Châm cứu là một thành phần quan trọng của nền Y học cổ truyền, đã được áp dụng rộng rãi trong chăm sóc sức khỏe từ hơn 2500 năm1 ở các quốc gia châu Á. Năm 2002, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã công nhận vai trò của châm cứu trong việc điều trị hiệu quả nhiều bệnh tật khác nhau2. Tuy hiệu quả trị liệu của châm cứu đã được các nhà khoa học công nhận, nhưng cấu trúc-chức năng-tác dụng đặc hiệu của huyệt vị vẫn còn rất nhiều tranh cãi. Do đó, vấn đề bằng chứng hóa bản chất và những tác dụng của huyệt vị bằng những nghiên cứu khoa học là điều rất cần thiết.
Ngày nay, cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, nhiều thiết bị hiện đại đã được ứng dụng trong nghiên cứu chứng minh cấu trúc-chức năng-tác dụng đặc hiệu của huyệt vị3,4. Trong đó, phương pháp đo nhiệt độ bức xạ hồng ngoại (IRT) đã được sử dụng rộng rãi để đánh giá tác động của châm cứu và hỗ trợ chẩn đoán một số bệnh bằng cách đánh giá sự thay đổi nhiệt độ tại các huyệt5. Đây là một phương pháp an toàn, chi phí thấp, không xâm lấn và đã có nhiều công trình nhiều nghiên cứu ứng dụng. Ví dụ, Litscher dùng camera hồng ngoại để ghi nhận sự gia tăng đáng kể nhiệt độ xung quanh huyệt Đại chùy (GV14) khi thể châm6.
Hoặc, Huang sử dụng IRT chứng minh sự khác biệt về thay đổi nhiệt độ da tại huyệt Túc tam lý (ST36) với các cường độ châm cứu khác nhau7. Tuy nhiên, các đề tài nghiên cứu ứng dụng IRT hiện nay chủ yếu tập trung vào chứng minh sự khác biệt giữa vị trí là huyệt và không phải huyệt, sự thay đổi nhiệt độ tại huyệt khi châm cứu,…mà ít nghiên cứu nào khảo sát về sự thay đổi nhiệt độ tại vị trí tác động tương ứng của các huyệt đặc hiệu – nhóm huyệt thường được lựa chọn trong điều trị các trình trạng đau trên lâm sàng. Hiện nay, đau cổ gáy là một tình trạng về cơ xương khớp phổ biến, đã trở thành một vấn đề sức khỏe quan trọng do tỷ lệ mắc cao và gánh nặng kinh tế mà nó mang lại8,9. Theo các thống kê, hơn 30% dân số bị đau cổ gáy mỗi năm8 và tỷ lệ hiện mắc suốt đời ở người lớn là từ 14,2 đến 71%9.
Bên cạnh đó, việc điều trị đau cổ gáy gặp nhiều khó khăn vì căn nguyên phức tạp, các triệu chứng rất dễ tái phát và các phương pháp điều trị như uống thuốc, tiêm thuốc hoặc phẫu thuật mặc dù có hiệu. 2 quả10,11 nhưng có thể dẫn đến một số tác dụng phụ nghiêm trọng. Chính vì lý do này, nhiều người bệnh tìm đến các phương pháp y học bổ sung và thay thế (CAM) để điều trị hiệu quả và an toàn hơn. Trong đó, liệu pháp châm cứu là một trong những liệu pháp CAM phổ biến nhất trên thế giới và được sử dụng rộng rãi để kiểm soát cơn đau cổ một cách hiệu quả12.
Nhiều nghiên cứu đã chứng minh châm cứu có thể làm giảm đau13, cải thiện chất lượng cuộc sống, giảm tỷ lệ phẫu thuật, tiết kiệm chi phí14. Để tăng hiệu quả của phương pháp, các công thức huyệt châm cứu điều trị đau cổ gáy thường là sự kết hợp huyệt tại chỗ đau với các huyệt đặc hiệu15,16. Trong số đó, huyệt Hậu khê là huyệt đặc hiệu thường được lựa chọn kết hợp với các huyệt cục bộ trong công thức huyệt châm cứu điều trị đau cổ gáy17. Đây là huyệt đặc hiệu được ghi nhận trong nhiều y văn về tác dụng điều trị đau cổ gáy.
Tuy nhiên, vẫn chưa có nghiên cứu khách quan nào chứng minh mối quan hệ tương ứng của riêng huyệt Hậu khê và vùng cổ gáy khi thể châm. Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, trong nghiên cứu này chúng tôi muốn làm sáng tỏ phần nào sự tương quan giữa huyệt Hậu khê và vùng cổ gáy qua phương pháp khảo sát sự thay đổi nhiệt độ bề mặt da vùng cổ gáy bằng camera hồng ngoại khi châm huyệt Hậu khê trên người tình nguyện khỏe mạnh. Câu hỏi nghiên cứu Khi châm huyệt Hậu khê trên người tình nguyện khỏe mạnh có làm thay đổi nhiệt độ bề mặt da tại vùng cổ gáy hay không? Mục tiêu nghiên cứu - Mục tiêu tổng quát: Khảo sát sự thay đổi nhiệt độ bề mặt da vùng cổ gáy khi châm huyệt Hậu khê trên người tình nguyện khỏe mạnh. - Mục tiêu cụ thể: 1.
So sánh sự thay đổi nhiệt độ bề mặt da vùng cổ gáy khi châm huyệt Hậu Khê và huyệt chứng từng bên. So sánh sự thay đổi nhiệt độ bề mặt da vùng cổ phải và vùng cổ trái khi châm huyệt Hậu Khê từng bên. Khảo sát biến cố không mong muốn trong quá trình châm.1 Kinh lạc và huyệt vị Hậu Khê là huyệt thuộc đường kinh thủ Thái dương Tiểu trường và là huyệt khai của mạch Đốc. Chính lộ trình và đặc điểm của 2 kinh mạch này giúp hình thành những tác dụng đặc hiệu của huyệt Hậu Khê18.1 Khái niệm Theo Y học cổ truyền, Kinh lạc được xem là một mạng lưới các đường ống để Khí và Huyết lưu chuyển.
Chúng được kết nối với hệ thống tạng phủ và tưới cho toàn bộ các cơ quan, cung cấp Khí và Huyết cho toàn cơ thể. Kinh mạch gồm 12 kinh chính, 8 kỳ kinh bát mạch và các bộ phận khác như 12 kinh cân, 12 kinh biệt và 12 bì bộ. Lạc mạch gồm 15 biệt lạc, phù lạc và tôn lạc18,19.2 Kinh thủ Thái dƣơng Tiểu trƣờng a) Lộ trình đường kinh Lộ trình kinh nổi: Kinh chính Tiểu trường bắt đầu từ góc trong gốc móng ngón 5 (Thiếu trạch) chạy dọc theo đường nổi da gan và da mu bàn tay đến cổ tay, dọc theo xương trụ lên khuỷu tay. Ở khuỷu, kinh chính Tiểu trường đi giữa mỏm khuỷu và lồi cầu trong, theo bờ sau trong của cánh tay lên khớp vai, chạy ngoằn nghoèo trên và dưới gai vai (có nhánh nối với kinh Bàng quang ở huyệt Phụ phân và Đại trữ, có nhánh nối với mạch Đốc ở huyệt Đại chùy) sau đó đi vào hố trên đòn ở huyệt Khuyết bồn, theo cổ lên má ở huyệt Quyền liêu.
Tại đây chia làm 2 nhánh: 01 nhánh đến hõm trước nắp bình tai (Thính cung), 01 nhánh đến khóa mắt trong (Tình minh) kết nối với kinh Bàng quang. Lộ trình kinh chìm: từ huyệt Khuyết bồn ở hố trên đòn, đi sâu vào Tâm, dọc theo thực quản xuyên qua cơ hoành xuống Vị, liên lạc với Tiểu trường18,19. 4 b) Các huyệt trên đường kinh Tiểu trường Có tất cả 19 huyệt trên đường kinh Tiểu trường: Thiếu trạch, Tiền cốc, Hậu khê, Uyển cốt, Dương cốc, Dưỡng lão, Chi chính, Tiểu hải, Kiên trinh, Nhu du, Thiên tông, Bỉnh phong, Khúc viên, Kiên ngoại du, Kiên trung du, Thiên song, Thiên dung, Quyền liêu, Thính cung18,19.1 Đƣờng kinh thủ Thái dƣơng Tiểu trƣờng. Nguồn: Giovanni Maciocia CA.
The Foundations of Chinese Medicine: A Comprehensive Text20 1.3 Mạch Đốc Mạch Đốc thuộc Kỳ kinh bát mạch – có nhiệm vụ liên lạc và điều hòa sự thịnh suy của khí huyết trong 12 kinh để đảm bảo sự cân bằng của cơ thể. Chữ ―Đốc‖ có nghĩa là giám sát, chỉ huy, cai quản. Mạch Đốc có lộ trình chạy theo đường giữa sau thân và quản lý tất cả các kinh dương của cơ thể, vì thế còn gọi là ―Dương mạch chi hải‖, nghĩa là biển của các kinh dương18,19. Mạch Đốc nhận tất cả kinh khí từ các đường kinh dương của cơ thể (bể của các kinh dương).
Mạch Đốc cùng với tất cả những kinh dương hòa hợp với nhau và tạo thành dương của cơ thể. Mạch Đốc có tác dụng: điều chỉnh và phấn chấn dương khí toàn thân, duy trì nguyên khí cơ thể18,19.1 Khái niệm theo Y học cổ tuyền Huyệt là nơi khí của tạng phủ, của kinh lạc, của cân cơ xương khớp tụ lại, tỏa ra ở phần ngoài cơ thể. Theo thiên Cửu châm thập nhị nguyên, sách Linh khu: ―Huyệt là nơi thần khí hoạt động vào-ra; nó được phân bố khắp phần ngoài cơ thể‖. Việc kích thích tại những huyệt vị này có thể làm những vị trí khác hay bộ phận của một nội tạng nào đó có sự phản ứng nhằm đạt được kết quả điều trị mong muốn.
Huyệt có quan hệ chặt chẽ với các hoạt động sinh lý và các biểu hiện bệnh lý của cơ thể nên có thể giúp cho việc chẩn đoán và phòng chữa bệnh một cách tích cực19.2 Quan điểm theo Y học hiện đại Huyệt là gì? Dưới góc nhìn của Y học hiện đại, câu hỏi này vẫn chưa thật sự có câu trả lời rõ ràng. Để tìm ra đáp án chính xác nhất cho câu hỏi này, nhiều nghiên cứu đã được tiến hành để xem xét cấu trúc, đặc điểm riêng biệt của vùng huyệt có gì khác với các mô hoặc cấu trúc xung quanh. Cho đến nay, mặc dù vẫn chưa phát hiện ra những cấu trúc độc đáo nào tương ứng với huyệt đạo, kết quả của những nghiên cứu ấy đã nêu được một số đặc điểm cụ thể liên quan đến vị trí huyệt: - Về cấu trúc giải phẫu tại vùng huyệt: ghi nhận có sự tập trung nhiều vi mạch cũng như là các đầu tận thần kinh, thụ thể thần kinh, các sợi dẫn truyền thần kinh A và C tại vùng huyệt. Ngoài ra, các nghiên cứu còn chỉ ra sự phân bố của các tế bào Mast tại vị trí huyệt cao hơn so với các mô xung quanh 21.
- Về điện sinh học tại vùng huyệt: kết quả của các nghiên cứu trên người khỏe mạnh cho thấy rằng, tại các vùng được xác định là huyệt có điện trở thấp hơn đáng kể so với các vùng không phải huyệt22. Đồng thời, khi khảo sát trên những người có bệnh lại ghi nhận được điện trở tại huyệt lại tăng đáng kể so với người khỏe mạnh23. Từ đó có thể thấy huyệt là một điểm phản xạ quan trọng của các tổn thương trên cơ thể và dựa vào phân tích điện trở của vùng huyệt có thể hỗ trợ phần nào cho mục đích chẩn đoán24. - Về phân tử sinh học tại vùng huyệt: khi kích thích vào huyệt, tại chỗ của huyệt có thể giải phóng các phân tử sinh học để phát huy vai trò giảm đau hoặc điều hòa.
Nghiên cứu sơ bộ cho thấy rằng Adenosine là các phân tử sinh học được tạo ra cục bộ tại huyệt khi châm cứu25. Bên cạnh đó, nhiều thử nghiệm cũng gợi ý rằng có nồng độ cao của Nitrit oxit, Guanosine monophosphate, Norepinephrine tại huyệt26. Hàm lượng Ca, Fe, Cu và Zn cao hơn đáng kể ở một số huyệt được kiểm tra so với ở mô không phải huyệt27.3 Huyệt Hậu khê và mối liên quan vùng cổ gáy 1.