CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 ĐẠI CƯƠNG VIÊM LOÉT DẠ DÀY – TÁ TRÀNG 1. Viêm dạ dày tá tràng Viêm dạ dày (VDD) là thuật ngữ dùng để chỉ tất cả những tổn thương viêm ở niêm mạc dạ dày, thể hiện sự đáp ứng của niêm mạc dạ dày với các yếu tố tấn công [88], [62]. Biểu hiện của VDD là chậm tiêu không có tổn thương thực thể nào được xác định. Bệnh khá phổ biến, tỷ lệ mắc bệnh tăng ở người cao tuổi chức năng tiêu hóa giảm.
Trong phần lớn trường hợp viêm dạ dày là hậu quả của sự kích ứng niêm mạc bởi các tác nhân ngoại sinh. Tuy nhiên sự biến đổi cũng có thể có nguồn gốc nội sinh như nhiễm trùng, nhiễm độc và miễn dịch [134]. Viêm dạ dày có thể được xếp thành 3 loại: - Viêm dạ dày ăn mòn hoặc xuất huyết (viêm dạ dày cấp). - Viêm dạ dày không ăn mòn, không đặc trưng (viêm dạ dày mạn tính).
- Viêm dạ dày đặc trưng do nhiễm khuẩn, viêm dạ dày u hạt, viêm dạ dày ưa eosin và bệnh dạ dày bì đại (Ménétrier). - Viêm dạ dày ăn mòn hoặc xuất huyết. Loét dạ dày - tá tràng - Loét dạ dày-tá tràng (peptic ulcer) là hệ quả cuối cùng của quá trình viêm do mất cân bằng giữa các yếu tố tấn công và các yếu tố bảo vệ niêm mạc dạ dày và tá tràng. Bệnh sinh viêm, loét dạ dày tá tràng phức tạp, do nhiều yếu tố tham gia cùng dẫn đến tăng tiết dịch vị vượt quá khả năng chống đỡ của niêm mạc dạ dày-tá tràng.
Các tổn thương dạ dày-tá tràng có thể thấy được qua nội soi. Khi tổn thương ăn sâu qua lớp cơ niêm dạ dày hoặc tá tràng sẽ dẫn đến loét (peptic ulcers) [49]. - LDD-TT (Peptic ulcer) là một bệnh mạn tính, diễn biến có tính chu kỳ. Tổn thương là những ổ loét ở niêm mạc dạ dày-tá tràng, ổ loét này có thể xâm lấn sâu hơn nữa qua lớp dưới niêm mạc; vị trí ổ loét ở dạ dày hoặc ở hành tá tràng [82].
Phân loại [29] [57] [39]: + LDD-TT do nhiễm vi khuẩn H. + LDD-TT do nguyên nhân khác: Stress, sử dụng aspirin và các thuốc NSAID hay corticoid, uống rượu, hút thuốc lá. Triệu chứng lâm sàng Triệu chứng lâm sàng bệnh viêm loét dạ dày tá tràng rất đa dạng, tuỳ thuộc vào giai đoạn tiến triển của bệnh. 3 - Thể điển hình: Đau thượng vị, có thể đau âm ỉ, đau quặn trước hoặc sau ăn.
Đau có tính chất chu kỳ: Đợt đau kéo dài vài tuần, vài tháng hoặc cả năm, năm sau lại xuất hiện đợt đau tương tự. Đợt đau năm sau tăng dần và dày hơn [29], [125]. Ngoài ra bệnh nhân thường đau trước hoặc sau bữa ăn. Khi đói ăn vào đỡ đau (loét tá tràng) hoặc khi ăn no đau (loét dạ dày).
Cơn đau có cường độ đau về đêm mạnh. Khi đau người bệnh có kèm theo buồn nôn, đầy bụng, ợ hơi, ợ chua, mệt mỏi, sút cân. - Thể không điển hình: Bệnh không có các triệu chứng trên, khi có các biến chứng như: Nôn ra máu, chảy máu tại ổ loét, đi ngoài ra phân đen, thủng ổ loét rồi mới phát hiện ra [29]. Loét dạ dày Kích thước LDD thường lớn hơn LTT.
Đường kính trung bình khoảng 2 cm. Đau bụng vùng thượng vị là triệu chứng chính có nhiều tính chất nhất. Đau có thể ở mức độ khó chịu, âm ỉ đến dữ dội [22]. Tùy thuộc vào vị trí ổ loét, tính chất đau có ít nhiều khác biệt - Đau từng đợt mỗi đợt kéo dài từ 2-8 tuần cách nhau vài tháng đến vài năm.
Đau gia tăng theo mùa, nhất là vào máu đông tạo nên tính chu kỳ của bệnh loét [140]. - Đau liên quan với bữa ăn, thường đau sau ăn trong khoảng vài chục phút đến vài giờ, đau nhiều sau bữa ăn trưa và chiêu tối hơn là bữa ăn sáng. - Vị trí đau thường là vùng thượng vị chiếm 64.6% theo khảo sát trên 1000 bệnh nhân tại bệnh viện đại học Y dược TP Cần Thơ nếu ổ loét nằm ở mặt sau thì có thể đau lan ra sau lưng [103]. Ở người trẻ tuổi gây loét hang vị hay ợ chua hoặc ợ nóng, nếu ở người trung niên, người già có biến chứng chảy máu cần cảnh giác với biến chứng ung thư hóa.
Các biểu hiện lâm sàng còn nghèo nàn, thường đau khi đang có đợt tiến triển, trong loét mặt trước có thể có dấu cảm ứng nhẹ vùng thượng vị. Trong đợt loét có thể gây sụt cân nhẹ [98] [134]. Loét tá tràng Triệu chứng chính: Đau bụng vào lúc đói (sau khi ăn từ 2-3 giờ) hoặc đau vào ban đêm. Tính chất đau cường độ thay đổi, từ ê ẩm đến từng cơn dữ dội, đau mang tính chất chu kì rõ rệt theo thời gian trong ngày, theo mùa trong năm.
Đau rát bỏng, nóng ở vùng thượng vị lệch sang phải là triệu chứng sớm của bệnh. - Nôn và buồn nôn cả lúc đói. - Ợ chua trong thời kì tiến triển, người bệnh thấy cồn cào, nếu ăn một chút vào thấy dễ chịu hơn [139]. Nguyên nhân loét dạ dày - tá tràng Bệnh loét dạ dày tá tràng (LDD - TT) là tổn thương của lớp niêm mạc xuyên qua lớp cơ niêm xuống đến lớp cơ.
Đặc điểm của bệnh loét là mạn tính và thường hay tái phát, diễn biến có tính chất chu kỳ, nếu không được điều trị triệt để nhiều trường hợp có thể biến chứng thành ung thư. Nguyên nhân chính dẫn tới viêm loét dạ dày tá tràng là do sự mất cân bằng giữa yếu tố tấn công niêm mạc dạ dày và yếu tố bảo vệ niêm mạc dạ dày. - LDD-TT (Peptic ulcer) là một bệnh mạn tính, diễn biến có tính chu kỳ. Tổn thương là những ổ loét ở niêm mạc dạ dày-tá tràng, ổ loét này có thể xâm lấn sâu hơn nữa qua lớp dưới niêm mạc; vị trí ổ loét ở dạ dày hoặc ở hành tá tràng [81].
Phân Loại Phân loại dựa vào nguyên nhân gây bệnh có thể phân loại VLDD - TT thành [9], [18]: - Nhiễm khuẩn: Chủ yếu do vi khuẩn H.pylori, ngoài ra còn có một số trường hợp do nhiễm khuẩn đường hô hấp trên. Ở nước ta có khoảng 70% - 80% các trường hợp bệnh nhân dương tính với H. - Một số thuốc: Thuốc NSAID, corticoid. - Một số chất kích thích: Chè, rượu, thuốc lá, cà phê, gia vị.
- Di truyền: Trong gia đình có người bị viêm dạ dày, ung thư dạ dày có nguy cơ mắc bệnh cao hơn những người khác. Cơ chế bệnh sinh Bệnh viêm loét dạ dày - tá tràng đã được biết đến từ lâu song cho đến nay cơ chế bệnh sinh vẫn chưa được xác định rõ ràng, giả thuyết được nhiều người chấp nhận nhất là do mất cân bằng giữa các yếu tố tấn công và các yếu tố bảo vệ [28], [101]. Các yếu tố này được trình bày tóm tắt trong bảng 1. Các yếu tố bảo vệ và yếu tố tấn công dạ dày Yếu tố bảo vệ Yếu tố tấn công - Hàng rào niêm dịch - Acid hydroclorid và pepsin - Chất nhầy - Vi khuẩn Helicobacter pylori - Bicarbonat - NSAIDs - Tế bào biểu mô - Aspirin - Prostaglandin - Stress, cà phê, rượu, thuốc lá… 5 Các nghiên cứu ngày nay cho rằng loét tá tràng là do các yếu tố bảo vệ không thích ứng được với sự tấn công của acid, pepsin quá mức.
Loét dạ dày là do các yếu tố bảo vệ bị suy yếu không đủ khả năng chống đỡ với sự tấn công dù lượng acid vẫn bình thường thậm chí là giảm. Cả hai trường hợp đều khởi đầu với một tổn thương viêm. Các yếu tố bảo vệ - Hàng rào niêm dịch: Để chống lại sự tấn công của ion H+, yếu tố chính là lớp niêm dịch giàu bicarbonat tạo bởi glycoprotein có chứa phospholipid không phân cực, nằm trên bề mặt lớp gel này có tính nhày và đàn hồi tốt. - Chất nhầy: Độ dày lớp này khoảng 1 mm bao phủ niêm mạc đường tiêu hóa ở dạng gel, mang tính kiềm, ngăn cản pepsin và acid dịch vị khuếch tán sâu vào trong niêm mạc.
- Bicarbonat: Trung hòa acid dịch vị ở bề mặt niêm mạc, chống lại sự khuếch tán ngược của H+. - Tế bào biểu mô: Niêm mạc dạ dày được hàn gắn nhờ sự tưới máu phong phú của các tế bào biểu mô và nằm dưới lớp biểu mô có vai trò mang đi H+, cung cấp oxy và các chất dinh dưỡng cho tế bào biểu mô. Ngoài ra nó còn tiết bicarbonat trung hòa một phần H+ nếu nó qua được lớp gel. - Prostaglandin: Có tác dụng ức chế trực tiếp các tế bào thành làm giảm bài tiết acid hydroclorid, kích thích tế bào biểu mô tăng cường bài tiết nhày và bicarbonat, duy trì dòng máu tới niêm mạc dạ dày [12], [119], [144].
Các yếu tố tấn công - Acid hydroclorid và pepsin có vai trò quan trọng trong quá trình tiêu hoá thức ăn nhưng cũng là nguyên nhân tạo ra loét. Tăng acid song song với tăng pepsin, tác động phối hợp của hai yếu tố này gây ra những tổn thương ở đường tiêu hóa gây ăn mòn và gây tổn thương niêm mạc dạ dày sinh ra loét [43], [125], [140]. - Vi khuẩn Helicobacter pylori: Đây là một loại xoắn khuẩn Gram âm, sống ở lớp niêm mạc và dưới niêm mạc dạ dày-tá tràng, làm tổn thương niêm mạc tại chỗ bằng cách: Thoái hóa lớp nhầy bảo vệ niêm mạc, sản xuất ra các men làm tổn thương các tế bào niêm mạc.pylori tiết ra men urease để thủy phân ure thành amoniac gây độc với tế bào niêm mạc, đồng thời ngăn cản quá trình tổng hợp chất nhầy làm thay đổi chất lượng và phân bố chất nhầy trên bề mặt niêm mạc. Các yếu tố tấn công như acid và pepsin tác động trực tiếp vào tế bào biểu mô và dẫn tới loét [81].
- Các thuốc như aspirin, thuốc nhóm NSAID hay corticoid: Cũng có thể làm tổn thương niêm mạc do ức chế tổng hợp prostaglandin. + Do sử dụng NSAID: Kích ứng tại chỗ niêm mạc đường tiêu hóa và ức chế COX- 1 làm giảm tổng hợp Prostaglandin (là chất kích thích bài tiết chất nhầy bảo vệ niêm 6 mạc) tạo điều kiện cho ổ loét phát triển, dẫn đến giảm khả năng bảo vệ của niêm mạc dạ dày. NSAID ảnh hưởng đến niêm mạc dạ dày và đường tiêu hóa trên của người bệnh, bao gồm: Bệnh loét dạ dày tá tràng và các biến chứng phức tạp của nó, nghiêm trọng nhất có thể kể đến xuất huyết tiêu hóa và thậm chí bị thủng đường tiêu hóa [6], [13], [144]. + Aspirin gây loét và chảy máu thường gặp nhiều ở dạ dày hơn tá tràng do tác động tại chỗ .