MỞ ĐẦU Nhiễm khuẩn đường tiết niệu (NKĐTN) là loại nhiễm trùng phổ biến, liên quan đến các bộ phận bao gồm hệ thống tiết niệu bao gồm niệu đạo, bàng quang, niệu quản và thận [10]. NKĐTN có thể mắc từ độ tuổi mới sinh đến lúc tuổi già, đặc biệt là ở nữ, gây gánh nặng to lớn với sự phát triển của xã hội với hơn 7 triệu ca nhập viện mỗi năm [10, 14]. Các nghiên cứu đã chứng minh dịch tể NKĐTN có thể liên quan đến các đặc điểm nhân khẩu học như giới tính, tuổi tác và khu vực sinh sống [18]. Ở Singapore, 4% phụ nữ trẻ tuổi bị ảnh hưởng và tỷ lệ mắc tăng lên 7% ở tuổi 50 [20].
Phụ nữ trưởng thành có nguy cơ mắc NKĐTN cao gấp 30 lần so với nam giới, trong đó gần một nửa trong số họ trải qua ít nhất một NKĐTN trong suốt cuộc đời của họ [14]. Trong số các NKĐTN mắc phải trong bệnh viện, khoảng 75% có liên quan đến ống thông tiểu, 15-25% người bệnh nhập viện được đặt ống thông tiểu trong thời gian nằm viện [10]. Theo thống kê của Bộ Y tế Singapore, tổng cộng 4.144 người bệnh nhập viện tại Singapore trong năm 2015 do NKĐTN, với thời gian nằm viện trung bình là từ 2-8 ngày [32] nhằm mục đích tập trung vào quản lý NKĐTN ở người lớn. Mặc dù nhiễm khuẩn đường tiết niệu không biến chứng được coi là lành tính, chúng có ý nghĩa y tế và tài chính đáng kể ước tính khoảng 1,6 tỷ Đô la Mỹ (USD) mỗi năm [14].
Kháng kháng sinh đã được báo cáo xảy ra khi một loại thuốc mất khả năng ức chế sự phát triển của vi khuẩn một cách hiệu quả. Vi khuẩn trở nên “kháng thuốc” và tiếp tục nhân lên với sự hiện diện của các mức độ điều trị của kháng sinh [31]. Vi khuẩn, khi sao chép ngay cả khi có mặt của kháng sinh, được gọi là vi khuẩn kháng thuốc. Vì đề kháng kháng sinh nên sự lựa chọn kháng sinh ban đầu trong điều trị phải dựa trên kiến thức và kinh nghiệm về tác nhân gây bệnh trong nhóm tuổi của người bệnh, sự nhạy cảm với kháng sinh trong khu vực thực hành, tình trạng lâm sàng của người bệnh và theo dõi trong điều trị của người bệnh [19, 35].
Nghiên cứu tại bệnh viện Chợ Rẫy năm 2009 cho thấy NKĐTN gây ra bởi các trực khuẩn gram âm như E. coli (42%), Enterococcus spp. (8,2%) và Acinetobacter spp. Đây là những trực khuẩn đề kháng kháng sinh cao như với tỷ lệ đáng báo động E.
Ngoài ra, các kháng sinh phát minh mới ngày càng ít vì vậy việc sử dụng kháng sinh hợp lý là điều kiện tiên quyết để đảm 2 bảo nguồn kháng sinh trong tương lai. Tại Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu khảo sát tình hình sử dụng kháng sinh tuy nhiên tại bệnh viện Đa khoa Trung tâm An Giang thì nghiên cứu về vấn đề này còn hạn chế. Do đó, nghiên cứu quyết định lựa chọn đề tài này với mục tiêu như sau: Mục tiêu chung Khảo sát đặc điểm người bệnh và tình hình sử dụng kháng sinh của người bệnh nhiễm khuẩn đường tiết niệu tại bệnh viện Đa khoa Trung tâm An Giang trong năm 2019. Mục tiêu cụ thể 1.
Khảo sát đặc điểm người bệnh có sử dụng kháng sinh trong điều trị nhiễm khuẩn đường tiết niệu tại Bệnh viện Đa khoa trung tâm An Giang trong năm 2019. Khảo sát tình hình sử dụng kháng sinh của bệnh nhiễm khuẩn đường tiết niệu tại Bệnh viện Đa khoa trung tâm An Giang trong năm 2019. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. TỔNG QUAN VỀ BỆNH NHIỄM KHUẨN ĐƯỜNG TIẾT NIỆU 1.
Định nghĩa Theo Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC - Centers for Disease Control and Prevention) Nhiễm khuẩn đường tiết niệu (NKĐTN) là một bệnh nhiễm trùng liên quan đến bất kỳ phần nào của hệ thống tiết niệu, bao gồm niệu đạo, bàng quang, niệu quản và thận. NKĐTN là loại nhiễm trùng liên quan đến chăm sóc sức khỏe phổ biến nhất được báo cáo cho mạng an toàn chăm sóc sức khỏe quốc gia Hoa Kỳ [10]. Theo BYT Singapore Nhiễm khuẩn đường tiết niệu (NKĐTN) là một bệnh nhiễm trùng ảnh hưởng đến bất kỳ phần nào của hệ thống tiết niệu, bao gồm thận, niệu quản, bàng quang và niệu đạo. Nhiễm trùng bàng quang, hay viêm bàng quang, là loại nhiễm trùng tiểu phổ biến nhất.
Nếu nhiễm trùng ảnh hưởng đến thận, nó được gọi là viêm bể thận, nghiêm trọng hơn [20]. Phụ nữ đặc biệt dễ bị nhiễm trùng tiểu, do sự ngắn của niệu đạo nữ, gần hậu môn hơn nam giới. Ngoài ra, phụ nữ có nguy cơ bị nhiễm trùng tiểu tái phát sau khi mãn kinh do nồng độ estrogen giảm, làm giảm số lượng vi khuẩn Lactobacilli, vi khuẩn thân thiện với người sống ở âm đạo của phụ nữ dễ thụ thai và ngăn chặn các vi khuẩn khác xâm nhập vào niệu đạo. Ngoài ra, sau khi mãn kinh, lớp niêm mạc của đường tiết niệu trở nên mỏng hơn, làm giảm khả năng chống lại sự xâm nhập của vi khuẩn.
Ở Singapore, khoảng bốn phần trăm phụ nữ trẻ tuổi trưởng thành bị ảnh hưởng. Tỷ lệ mắc tăng theo tuổi đến bảy phần trăm sau 50 tuổi. Trong sáu tháng đầu đời, nhiễm trùng tiểu thường gặp ở trẻ trai vì nhiều nam giới sinh ra có bất thường về cấu trúc của đường tiết niệu. Sau đó, nhiễm trùng tiểu thường gặp ở nữ giới [20].
Nước tiểu thường vô trùng, nhiễm trùng xảy ra khi vi sinh vật (thường là vi khuẩn từ ruột) bám vào niệu đạo và bắt đầu nhân lên. Nhiễm trùng có thể vẫn còn ở đường tiết niệu dưới (niệu đạo và bàng quang) hoặc nó có thể di chuyển cao hơn đến thận. NKĐTN cũng có thể lây truyền qua đường tình dục [5]. Phân loại Hệ thống phân loại khác nhau của NKĐTN tồn tại.
Được sử dụng rộng rãi nhất là những nghiên cứu được phát triển bởi Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh (CDC) [22], Hiệp hội bệnh truyền nhiễm Hoa Kỳ (IDSA) [36], cũng như Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) [38]. Các hướng dẫn về NKĐTN hiện tại thường sử dụng khái niệm NKĐTN không biến chứng và phức tạp với một số sửa đổi. Năm 2011, Hiệp hội Tiết niệu Châu Âu (EAU) đã đề xuất hệ thống phân loại ORENUC dựa trên biểu hiện lâm sàng của NKĐTN, mức độ giải phẫu của NKĐTN, mức độ nghiêm trọng của nhiễm trùng, phân loại các yếu tố nguy cơ và sự sẵn có của liệu pháp kháng khuẩn thích hợp [23]. Phân loại nhiễm khuẩn đường tiết niệu Phân loại Định nghĩa Nhiễm khuẩn Cấp tính, lẻ tẻ hoặc tái phát thấp (viêm bàng quang không biến đường tiết niệu chứng) và / hoặc trên (viêm bể thận không viến phức tạp chứng) NKĐTN, giới hạn ở những phụ nữ không mang thai không (Uncomplicated có bất thường về giải phẫu và chức năng có liên quan trong đường Urinary Tract tiết niệu hoặc bệnh lý [16].
Infections) Tất cả NKĐTNs đó đang không được xác định như không biến Nhiễm khuẩn chứng. Có nghĩa là trong một nghĩa hẹp NKĐTNs ở một người đường tiết niệu bệnh với một tăng cơ hội của một phức tạp khóa học: tức là tất cả phức tạp nam giới, mang thai phụ nữ, người bệnh có liên quan giải phẫu (Complicated hoặc bất thường về chức năng của đường tiết niệu, ống thông niệu Urinary Tract đạo, bệnh thận, và / hoặc với khác đồng thời bệnh liên quan miễn Infections) dịch cho ví dụ, bệnh đái tháo đường [16]. Nhiễm khuẩn đường tiết niệu Tái phát các biến chứng và / hoặc trường hợp xảy ra phức tạp hơn tái phát của NKĐTNs, với một tần số của ít nhất ba lần với (Recurrent NKĐTN/năm hoặc hai lần NKĐTNs trong các cuối cùng Urinary Tract sáu tháng [16]. Infections) 5 Phân loại Định nghĩa Nhiễm khuẩn đường tiết niệu liên quan đến Nhiễm khuẩn đường tiết niệu có liên quan đến ống thông (CA- ống thông NKĐTN) được định nghĩa là nhiễm khuẩn đường tiết niệu xảy (Catheter- ra ở người có đường tiết niệu hiện đang được đặt ống thông hoặc associated đã đặt ống thông trong vòng 48 giờ [16].
Urinary Tract Infections) Nhiễm khuẩn huyết (NKH) từ nhiễm khuẩn đường tiết niệu Nhiểm khuẩn (NKĐTN) được xem là nhiễm khuẩn khởi phát từ đường tiết niệu, huyết từ nhiễm sau đó vi khuẩn vào dòng máu gây ra những triệu chứng khuẩn đường toàn thân. Nhiễm khuẩn huyết từ nhiễm khuẩn đường tiết niệu tiết niệu cũng được định nghĩa bằng việc xác định kết quả của cấy máu và (Urosepsis) cấy nước tiểu có cùng một tác nhân gây bệnh [16]. Nguyên nhân và yếu tố nguy cơ của NKĐTN a. Tác nhân gây về nhiễm khuẩn đường tiết niệu bệnh viện Môi trường bệnh viện đóng vai trò quan trọng trong xác định tác nhân gây NKÐTN bệnh viện.
Các tác nhân thường là do E. coli, Klebsiella spp., Proteus mirabilis, staphylococci, các vi khuẩn Enterobacteriaceae khác, Pseudomonas aeruginosa và enterococci [24, 34]. Ðặt ống thông niệu đạo - bàng quang là một yếu tố nguy cơ cao nhất gây NKÐTN bệnh viện, đặc biệt trong các trường hợp tắc nghẽn đường tiết niệu. Khoảng 20% người bệnh nằm viện phải đặt ống thông niệu đạo - bàng quang, và từ đây có thể dẫn đến nhiễm khuẩn huyết [5, 24, 34].
Các tác nhân khác Các tác nhân ít gặp hơn bao gồm các trực khuẩn Gram âm như Acinetobacter và Alcaligenes spp. khác, Citrobacter spp., Garnerella vaginalis, và các streptococci tiêu huyết beta. Các tác nhân Mycobacteria, Chlamydia trachomatis, Ureaplasma urealyticum, Campylobacter spp., Haemophilus influenzae, Leptospira, và một số Corynebacterium (như C. renale) là hiếm gặp hơn.
Salmonella 6 có thể phân lập được từ nước tiểu trong giai đoạn sớm của bệnh thương hàn và kết quả nuôi cấy này phải được thông báo khẩn cấp cho bác sĩ lâm sàng biết để điều trị đặc hiệu thương hàn. Tác nhân denovirus type 11 và 21 đã được ghi nhận là tác nhân gây viêm bàng quang xuất huyết ở trẻ em [24, 34, 37]. Con đường nhiễm bệnh Vi khuẩn xâm nhập và gây NKÐTN qua hai con đường: ngược dòng hay theo đường máu. Con đường ngược dòng thường được ghi nhận ở nữ vì cấu tạo giải phẫu niệu đạo ngắn và/hay sinh hoạt tình dục, tuy nhiên NKÐTN ngược dòng do đặt dụng cụ qua niệu đạo như ống thông niệu đạo - bàng quang là rất dễ xảy ra cho cả nam lẫn nữ và là nguy cơ cao nhất gây NKÐTN bệnh viện.
Tác nhân gây NKÐTN ngược dòng thường là trực khuẩn Gram âm đường ruột và các tác nhân khác có nguồn gốc từ hệ tiêu hoá và có khả năng quần cư ở vùng quanh miệng niệu đạo. Trong bệnh viện, các tác nhân này thường từ môi trường bệnh viện rồi quần cư ở da và hệ tiêu hóa của người bệnh nằm viện sau đó quần cư tại vùng quanh miệng niệu đạo của người bệnh [34, 37].