Chương 1 TONG QUAN 1.1 Giới thiệu sơ lược về cây dưa leo 1.1 Nguồn gốc Cây dưa leo được các nha khoa học xác nhận là cây có nguồn gốc ở Việt Nam, tồn tại ở nước ta hàng nghìn năm nay. Trong quá trình giao lưu buôn bán, dưa leo được phổ biến sang Trung Quốc. Từ đây chúng được phát triển sang Nhật Ban và Châu Âu hình thành nhóm thứ nhất có dạng quả đài, gai trắng, màu xanh đậm. Nhóm thứ hai mang đặc trưng của vùng nguyên sản được phát triển sang lục địa Ấn Độ hơn 2000 năm trước.
Hiện nay dưa leo được trồng khắp nơi, từ xích đạo đến 63 vĩ độ Bắc. Ở nước ta vùng trồng đưa leo tập trung chủ yếu ở Hải Hưng, Hải Phòng, Hà Nam, Hà Bắc, Vinh Phúc, Hà Nội và một số tinh Duyên Hải Miền Trung và Đông Nam Bộ (Mai Thị Phương Anh và ctv, 1996).2 Phân loại Dua leo có tên khoa học là Cucumis sativus L., tên Tiếng Anh là Cucumber, thuộc họ bau bí (Cucurbitaceae) (Lê Thị Khanh, 2009). Theo Nguyễn Văn Hiển (2000), đựa trên cơ sở nghiên cứu về tiến hóa sinh thái của các nhà khoa học trước đây đã đưa ra bảng phân loại. Các dạng hoang dại được đưa vào một trong các loai phụ Ssp.
Agrotics Gab, còn lại các dạng khác là trồng trot và tập trung vào các loài phụ: 1) ssp. Europaeo - americanus Fil.: loài phụ Âu - Mỹ là loài phụ lớn nhất về dia bàn phân bó.: loài phụ Tây A phân bố rộng rãi tại các vùng khô hạn Trung và Tiểu Á, Iran, Afganistan và Azecbaizan với các đặc tính chịu nóng.: loài phụ Trung Quốc được sử dụng phổ biến dé trồng trong nhà kính ở Châu Âu gồm các giống quả ngắn can thụ phan và qua dai không qua thụ phan.: loài phụ Nhật - An được phân bồ tại khu vực nhiệt đới và á nhiệt đới với lượng mưa lớn.3 Đặc điểm thực vật học của cây dưa leo Bộ rễ: Rễ dưa leo thuộc loại rễ chùm. Khi hạt mới mọc, rễ chính (rễ non) do phôi rễ của hạt vươn dai ra, sau 5 - 6 ngày mới mọc rễ phụ. Rễ chính tương đối phát trién, phân bố chủ yếu ở tang đất canh tác có độ sâu từ 0 - 30 cm, rộng 50 - 60 cm.
Ré chính có thể ăn sâu từ 60 - 100 em trong điều kiện lý tưởng (đất có tầng canh tác dày, nhiều mùn, tơi xốp, thoáng khí). Rễ phụ phân bố tương đối nông, chủ yếu ở độ sâu 0 - 20 em (Tạ Thu Cúc và ctv, 2000). Thân: Thân dưa leo, thuộc loại thân thảo hằng năm, có đặc tính leo bò. Chiều dài thân tùy điều kiện canh tác và giống, các giống canh tác ngoài đồng thường chỉ dài từ 0,5 - 2,5 m, đài nhất có thể đạt trên 3 m.
Thân tròn hay có góc cạnh, có lông ít nhiều tùy giống. Thân chính thường phân nhánh; cũng có nhiều dạng dưa leo hoàn toàn không hình thành nhánh ngang. Sự phân nhánh của dưa leo còn chịu sự ảnh hưởng của nhiệt độ ban đêm. Lá: Lá đơn, to, mọc cách trên thân, dang lá tam giác với cuống lá rất đài 5 - 15 cm, rìa lá nguyên hay có răng cưa.
Lá trên cùng cây cũng có kích thước và hình dáng thay đồi. Màu sắc lá thay đổi tùy theo giống. Hoa: Đơn tính cùng cây hay khác cây. Hoa cái mọc ở nách lá thành đôi hay riêng biệt; hoa đực mọc thành cụm từ Š - 7 hoa; dưa leo cũng có hoa lưỡng tính.
Có giống trên cây có cả 3 loại hoa và có giống chỉ có 1 loại hoa trên cây. Hoa có màu vàng, thụ phấn nhờ côn trùng, bầu noãn của hoa cái phát triển rất nhanh ngay trước khi hoa nở. Sự biến dị về tính trạng giới tính ở dưa leo rất rộng, đó là đặc tính thích nghi mạnh của cây trong điều kiện môi trường. Nói chung, điều kiện ngày dài, nhiệt độ cao và các điều kiện bất lợi khác làm cho cây cho nhiều hoa đực.
Ngoài ra, tỉa nhánh, sử dụng kích thích sinh trưởng và chế độ phân bón có thể ảnh hưởng đến sự biến đổi giới tính của cây. Các dạng cây có giới tính khác nhau ở dưa leo được nghiên cứu va tạo lập để sử dụng trong chọn tạo giống lai. Qua, hạt: Lúc còn non có gai xù xì, khi quả lớn gai từ từ mat đi. Quả từ khi hình thành đến khi thu hoạch có màu xanh đậm, xanh nhạt, có hay không có hoa văn (sọc, vệt, châm), khi chin quả chuyên sang mau vàng sam, nâu hay trắng xanh.
Quả tang 4 trưởng rất nhanh tùy theo giống, có thé thu quả từ 8 - 10 ngày sau khi hoa nở. Pham chat quả không chỉ tùy thuộc vào thanh phan các chất dinh đưỡng trong quả ma còn tùy thuộc vào độ chắc của thịt quả, độ lớn của ruột quả và hương vị quả. Quả chứa hạt màu trắng ngà, trung bình có từ 200 - 500 hat/qua.4 Yêu cầu về điều kiện ngoại cảnh của cây dưa leo 1.1 Nhiệt độ Dưa leo có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới, ưa khí hậu ấm áp nhưng có thể nãy mầm ở nhiệt độ tối thiểu 12 - 15°C, tối đa 35 - 40°C, tối thích 25 - 30°C. Nhiệt độ thích hợp cho quá trình ra lá 20°C, nhiệt độ dưới 15°C kéo dai cây sinh trưởng rất khó khăn, đốt ngắn, hoa nhỏ, hoa đực màu nhạt.
Tổng tích ôn từ lúc gieo đến lúc thu hoạch là 900°C, thu hết 1650°C. Liên hệ thay rằng nước ta dưa leo có thé được trồng ở các vùng trong cả nước đặc biệt là trung du và vùng núi. Tuy nhiên dưa leo cũng như các cây trong họ bầu bí rất mẫn cảm với sương giá, đặc biệt là nhiệt độ thấp nhất về ban đêm 3 - 4°C (Lê Thị Khánh, 2009).2 Ánh sáng Dưa leo thuộc nhóm cây ưa sáng ngắn ngày. Độ dài chiếu sáng thích hợp cho cây sinh trưởng và phát triển là 10 - 12 giờ/ngày.
Nẵng nhiều có tác dụng tốt đến hiệu suất quan hợp làm tăng năng suất và pham chat quả. Cường độ ánh sáng thích hợp là 15. Nắng nhiều có tác dụng tốt đến khả năng quang hợp, làm gia tăng năng suất, chất lượng quả và rút ngắn thời gian gia tăng độ lớn của quả. Phản ứng của dưa leo với ánh sáng còn phụ thuộc vào giống và thời vụ gieo trồng.
Thời gian chiếu sáng dài, nhiệt độ cao (> 30°C) sẽ thúc day sự sinh trưởng thân lá, hoa cái xuất hiện muộn. Ánh sáng thiếu và yếu, cây sinh trưởng, phát triển kém, ra hoa cái muộn, mau sắc hoa cái nhạt, vàng ta, hoa cái dé bị rụng, năng suất cây thấp, chất lượng giảm, hương vị kém.3 Nước và độ 4m Quả dưa leo chứa đên 95% nước nên yêu câu độ âm của cây rât cao. Mặt khác do phiên lá lớn, hệ sô thoát nước cao nên dưa leo là cây đứng dau về nhu câu nước trong 5 họ bầu bi. Độ ẩm thích hợp cho dưa leo là 85 - 90%, độ âm không khí 90 - 95%.
Dưa leo yêu cầu về độ âm đất rất lớn, chịu hạn rất yếu, thiếu nước cây sinh trưởng kém và tích lũy chất cucurbitaxin làm quả trở nên đắng. Thời kì cây ra hoa, tạo quả yêu cầu lượng nước cao nhất. Tuy nhiên, âm độ không khí cao lại giúp cho bệnh sương mai phát triển mạnh (Mai Thị Phương Anh và ctv, 1996).4 Đất trồng Cây dưa leo ưa thích đất đai màu mỡ, giàu chất hữu cơ, đất tơi xốp, pH từ 5,5 - 6,8 và tốt nhất từ 6 - 6,5. Dưa leo gieo trồng trên đất thịt nhẹ, đất cát pha thường cho năng suất cao, chất lượng quả tốt.5 Dinh dưỡng Nghiên cứu về hiệu suất sử dụng khoáng chủ yếu của dưa leo cho thấy rằng dưa leo sử dụng kali với hiệu suất cao nhất, thứ hai là đạm rồi đến lân.
Nếu bón 60 kg N, 60 kg KaO, 60 kg P2Os thi dưa leo sử dung 92% N, 33% P20s va 100% KaO. Bon phân chuồng với phân khoáng một cách hợp lý sẽ làm tăng hàm lượng đường trong qua 1.5 Các thời kỳ sinh trưởng của cây dưa leo Theo Tạ Thu Cúc (2005), họ bầu bí chia thành 5 giai đoạn sinh trưởng - phát dục bao gồm.1 Thời kỳ nảy mầm Từ khi mọc đến 2 lá mầm: Nhìn chung hạt của họ bầu bí có khối lượng hạt lớn, hạt chứa nhiều chất dinh dưỡng nên thuận lợi cho quá trình mọc. Yếu tổ quan trọng trong thời kỳ nảy mam là nhiệt độ. Khi nhiệt độ trên 12°C thì hạt nảy mầm, nhiệt độ thích hợp nhất là 25 - 30°C, nhiệt độ thấp dưới 10°C hạt không mọc.
Độ âm dat cũng quan trọng trong thời kỳ hạt nảy mam. Sự sinh trưởng của hai lá mầm phụ thuộc nhiệt vào giống, nhiệt độ, chất dinh dưỡng và độ ẩm đất. Ở thời kỳ này chúng sinh trưởng rất nhanh, có ảnh hưởng lớn đến đời sống của cây, đặc biệt là thời kỳ cây con.2 Thoi ky cay con Từ khi cây có 2 lá mầm đến 4 - 5 lá thật: Đặc điểm của thời ky nay là than lá sinh trưởng rất chậm, lá nhỏ, lóng cây nhỏ và ngắn, thân ở trạng thái đứng, thân thắng, chưa có khả năng phân cành. Hầu hết các cây trong họ bầu bí đều sinh trưởng yếu, rất mẫn 6 cảm với điều kiện ngoại cảnh, khả năng chống chịu với sâu bệnh hại kém.
Vì vậy cần tăng cường chăm sóc, tăng cường tưới phân thúc, sử dụng những loại phân dé hòa tan như phân đạm với nồng độ 0,2% - 0,3% đối với dưa leo. Khoảng cách giữa các lần bón thúc 3 - 4 lần. Vấn dé quan trọng là phun thuốc phòng bệnh hại như phan trắng.3 Thời kỳ ra hoa Thời kỳ này được xác định từ sau khi trên cây có 4 - 5 lá thật đến khi có hoa cái đầu tiên. Ở thời kỳ này thân lá sinh trưởng mạnh, thể hiện qua các chỉ tiêu: số lá và điện tích lá tăng, chiều dai và đường kính thân tăng vượt trội so với thời kỳ cây con.
Các nhánh cấp 1, cấp 2 và tua cuốn được hình thành liên tục. Cây nhanh chóng chiếm diện tích dinh dưỡng, nếu làm giàn không kịp thời cây bị dé ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển. Sau gieo trồng từ 50 - 70 ngày trên cây xuất hiện hoa cái đầu tiên. Sự khác biệt này phụ thuộc vào loài, giống, điều kiện ngoại cảnh và kỹ thuật chăm sóc.
Ở thời kỳ nay cần đặc biệt chú ý đến sự cân bằng giữa sinh trưởng sinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực. Nếu đạm trong cây dư thừa, cây sinh trưởng quá mạnh, kéo dai thời gian ra hoa, quả, giảm khả năng chong chịu với sâu bệnh hại và điêu kiện bat lợi.