Chương 1 TONG QUAN TAI LIEU 1.1 Giới thiệu chung về dưa leo 1.1 Nguồn gốc va sự phân bố Dưa leo có tên khoa học là Cucumis sativus L., thuộc ho bầu bí (Cucurbitaceae). Trung tâm khởi nguyên của dưa leo được cho là ở Nam A và được trồng trọt cách đây khoảng 3000 năm. Cũng có ý kiến cho rằng cây dưa leo có nguồn sốc từ Việt Nam. Hiện nay, dưa leo được trồng khắp nơi trên thế giới, từ xích đạo đến 63° vĩ bắc, đứng thứ 6 trong số các loại rau trồng phố biến trên thế giới (Mai Thi Phương Anh, 1996).2 Đặc điểm hình thái Theo Phạm Hồng Cúc và ctv (2001), đặc điểm thực vật học của cây dưa leo gồm có những cơ quan, bộ phận: Rễ: Dưa leo có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới âm ướt nên hệ rễ cây dưa leo kém phát triển hơn rễ cây bí ngô, dưa hấu.
Rễ dưa leo ưa ẩm nhưng không chịu ngập úng, cũng không chịu khô hạn. Rễ dưa có thé ăn sâu đến 1 m, nhánh và rễ phụ phát triển theo điều kiện đất đai. Rễ phân bố chủ yếu ở phần đất canh tác (0 - 30 cm), nhưng hầu hết rễ tập trung ở tầng đất mặt từ 15 - 20 cm. Thời kỳ cây con rễ sinh trưởng yếu, phát triển kém sẽ anh hưởng đến các bộ phận cây trên mặt đất, khả năng sinh trưởng kém.
Thân: Dưa leo thuộc cây thân thảo hàng niên, thân dài có nhiều tua cuốn để bám khi bò, chiều dài thân cây tùy điều kiện canh tác và giống, thường dài từ 0,5 - 2,5 m. Căn cứ chiều cao cây dưa leo chia làm 3 nhóm: nhóm thân lùn có chiều cao thân 0,6 - 1 m, nhóm thân trung bình có chiều cao thân 1 - 1,5 m, nhóm thân cao có chiều cao 1,5 - 3 m và đặc biệt có loại thân cao 4 - 5 m. Trên thân lá mam va lóng thân trong điều kiện 4m độ cao có thể hình thành nhiều rễ bất định. Tùy giai đoạn sinh trưởng mà thân có thân hình tròn hay góc cạnh, có lông ít hay nhiều tùy vào giống.
Thân thường phân nhánh nhưng có loại dua leo hoàn toàn không có nhánh ngang. Sự phân nhánh của dưa leo còn chịu sự ảnh hưởng của nhiệt độ ban đêm. Lá: Dưa leo có lá mầm và lá thật, hai lá mầm mọc đối xứng qua trục thân. Lá mam có hình trứng và là chỉ tiêu quan trong để đánh giá và dự đoán tình hình sinh trưởng của cây.
Lá thuộc dạng lá đơn, mọc cách, chia thùy nhọn hoặc dạng chân vịt, dạng lá tròn. Lá trên cùng một cây cũng có kích thước và hình dang thay đối, trên lá có lông và cuống ngắn. Lá thật có 5 cạnh, trên cuống lá có lông cứng, ngắn. Màu sắc lá thay đối theo giống và chế độ phân bón.
Hoa: Hoa có màu vàng, đường kính 2 - 3 cm. Cây có hoa đơn tính đồng chu, đôi khi xuất hiện đơn tính biệt chu và dạng hoa lưỡng tính. Hoa cái mọc ở nách lá thành đôi riêng biệt, hoa đực mọc thành chùm và thường xuất hiện sớm hơn hoa cái. Cánh hoa màu vàng và chủ yếu thụ phan nhờ côn trùng.
Quả: Quả lúc còn nhỏ có gai xù xì, khi quả lớn gai mất đi. Quả từ khi hình thành đến khi thu hoạch có màu xanh đậm đến xanh nhạt, có hay không có hoa văn (sọc, vết, chấm). Khi chín, quả chuyển sang màu vàng sậm, nâu hay trắng xanh. Quả tăng trưởng rất nhanh tùy theo giống.
Trong quá trình sản xuất đưa leo thường xuất hiện quả dị hình, quả phát triển không cân đối. Đó là quá trình biến đổi quá mạnh trong thời kỳ phôi thai. Có thé thu hoạch 8 - 10 ngày sau khi hoa nở. Phẩm chat quả phụ thuộc vào độ chặt của thịt quả, độ lớn của ruột quả, hương vi qua.
Hạt: Hat có màu trắng ngà, kích thước thay đổi tùy theo sự vận chuyên các chất dinh dưỡng của cây vào hạt, số hạt trong quả dao động 200 - 300 hạt. Khối lượng 1000 hạt khoảng 20 - 30 g.3 Yêu cầu về sinh thái 1.1 Nhiệt độ Theo Phạm Hồng Cúc và ctv (2001), dưa leo yêu cầu nhiệt độ nảy mầm của hạt phải cao hơn 12°C. Nhiệt độ thích hợp cho sinh trưởng, phát dục là 18 - 32°C. 4 Nhiệt độ thấp hơn 5°C hay cao hơn 40°C là cây ngừng sinh trưởng.
Nhiệt độ ảnh hưởng trực tiếp đến thời gian ra hoa của cây. Nhiệt độ thích hợp để trái lớn nhanh là 25 - 30°C. Tổng tích ôn từ lúc hạt nảy mầm đến khi thu hoạch quả đầu tiên của giống địa phương là 900°C và đến kết thúc thu hoạch là 1. Nhiệt độ ảnh hưởng trực tiếp đến thời gian ra hoa của cây, nhiệt độ càng thấp thời gian ra hoa càng kéo dài (Mai Thị Phương Anh, 1996).2 Ánh sáng Dưa leo thuộc nhóm cây ưa sáng, ngày ngắn.
Độ dài chiếu sáng thích hợp cho sinh trưởng và phát dục là 10 - 12 giờ/ngày. Nắng chiều có tác dụng tốt đến hiệu suất quang hợp làm tăng năng suất, chất lượng quả và rút ngắn thời gian lớn của quả. Cường độ ánh sáng thích hợp cho dua leo trong phạm vi 15. Nang nhiều có tác dụng tốt đến khả năng quang hợp.
làm gia tăng năng suất, chất lượng quả và rút ngắn thời gian gia tăng độ lớn của quả (Pham Hồng Cúc và ctv, 2001).3 Âm độ Qua dưa leo chứa đến 95% nước nên yêu cầu 4m độ của cây rất cao. Mặt khác do phiến lá lớn, hệ số thoát hơi nước cao nên dua leo là cây đứng đầu về nhu cầu nước trong họ bau bí. Độ ẩm thích hợp cho dưa leo là 85 - 95%, độ 4m không khí 90 - 95%. Dưa leo yêu cầu về độ ẩm đất rất lớn, chịu hạn rất yếu, thiếu nước cây sinh trưởng kém và tích lũy chất cucurbitaxin làm quả trở nên đắng.
Thời kì ra hoa, tạo quả yêu cầu lượng nước cao nhất. Tuy nhiên, âm độ không khí cao lại giúp cho bệnh sương mai phát triển mạnh (Mai Thị Phương Anh và ctv, 1996).4 Dat và dinh dưỡng Theo Phạm Hồng Cúc và ctv (2001), do bộ rễ phát triển kém nên cây dưa leo không chịu được úng và hạn, thiếu nước cây sinh trưởng kém đồng thời tích lũy chất cucurbitaxin gây dang quả. Dưa leo thích hợp với loại đất có thành phần cơ giới nhẹ như đất cát pha, đất thịt nhẹ và thoát nước tốt, độ pH thích hợp là 5,5 - 6,5. Dưa leo thích hợp với các loại đất có thành phần cơ giới nhẹ như đất cát pha, đất thịt nhẹ và thoát nước tốt, độ pH thích hợp là 6,5 - 7,5.
Trong các nguyên tô dinh dưỡng, dưa leo hút nhiều nhất là kali sau đó đến đạm, lân.4 Các thời kì sinh trưởng và phát dục Theo Phạm Hồng Cúc và ctv (2001), các thời kì sinh trưởng - phát dục chủ yếu của dưa leo bao gồm: 1.1 Thời kì nảy mầm (từ khi mọc đến khi 2 lá mầm) Hạt dưa leo tương đối lớn chứa nhiều đinh dưỡng nên mọc mầm khá mạnh, yếu tô quan trọng trong thời kì này là nhiệt độ. Dưa leo có thể nay mam ở 15 - 30°C, nhiệt độ thích hợp 25 - 30°C. Sau khi gieo nếu gặp nhiệt độ thấp hoặc quá cao trong thời gian dài hạt dễ bị thối. Hai lá mầm sau khi xuất hiện thì tăng trưởng mạnh và có tác dụng quang hợp tốt, là bộ phận quan trọng cung cấp vật chất đồng hóa cho cây sinh trưởng.2 Thời kì cây con (từ khi cây có 2 lá mầm đến 4 - 5 lá thật) Là thời kì từ khi xuất hiện 2 lá mầm đến khi xuất hiện 4 - 5 lá thật.
Thời kì này bộ phận trên mặt đất sinh trưởng chậm, thân mọc thang chua phan canh, long than ngắn, lá nhỏ, tốc độ ra lá chậm. Bộ phận dưới mặt đất phát triển tương đối nhanh cả về độ sâu và bề rộng, khả năng ra rễ phụ rất mạnh. Thời ki này kết hợp vun xới và bón thúc, tưới nước giữu 4m dé kích thích rễ phát triển, chú ý phòng trừ sâu bệnh.3 Thời kì ra hoa (từ khi cây có 4 - 5 lá thật đến khi ra hoa cái đầu tiên) Sau khi có 4 - 5 lá thật, cây sinh trưởng rất nhanh. Thân cây thời kì này phát triển thắng đứng chuyên dan sang trạng thái leo, bò.
Sự phát triển về độ dài thân ở thời kì này phát triển rất mạnh, độ dài lóng thân rất dài so với thời kì cây con, nhanh phụ, tua cuốn hình thành liên tục, hoa đực ra nhiều, hoa cái đầu tiên xuất hiện. Ở thời kì này thời xuyên xảy ra tình trạng mắt cân đối giữa sinh trưởng và phát triển dẫn đến thân lá nhiều, hoa quả quả ít, nếu không chăm sóc đúng kỹ thuật. Vì vậy cần chú ý cân đối dinh dưỡng, điều tiết nước, tia nhánh, vun xới dé cho năng suất cao.4 Thời kì ra quả (từ khi có hoa cái đầu tiên đến hình thành quả tập trung) Cây sinh trưởng và phát triển rất mạnh, khối lượng thân, lá, quả trên mặt đất và khối lượng dưới mặt đất đạt tối đa. Quả được hình thành một cách liên tục, quả tăng nhanh về kích thước và khối lượng, quả phát triển cân đối, mẫu mã đẹp.
Năng suất và chất lượng quả đạt tốt nhất, phần trăm số quả thương phẩm cao. Đây là thời kì cây yêu cầu nước và dinh dưỡng, vì vậy cần bón thúc hợp lí, thu hoạch quả đúng độ chín thương phẩm nhằm tăng chất lượng, năng suất.5 Thời kì già cỗi (từ sau trái rộ đến tàn) Là thời kì cho quả rộ đến tàn. Thời kì này sinh trưởng thân lá giảm, hoa quả ít, nhỏ, quả đèo nhiều. Cần chú ý chăm sóc dé kéo dai thời gian thu hoạch, làm tăng năng suất quả cuối vụ.5 Một số sâu bệnh hại dưa leo 1.1 Sâu hại Theo Tạ Thu Cúc (2005), thành phần sâu hại dưa leo rất phong phú, nhưng mức độ gây hại phụ thuộc rất nhiều vào giống, thời vụ gieo trồng, tình hình sinh trưởng phát triển và chế độ dinh dưỡng trong cây.
Một số sâu hại chủ yếu trên dưa chuột gồm có: sâu xám, sâu đục quả, rệp, nhện đỏ, ruồi đục quả, ruồi đục lá, bọ trĩ, bọ xít nâu. Dưa leo thường bị các loại sâu bọ gây hại nghiêm trọng. Sâu ăn 1a (Diaphania indica): Sau non đài khoảng 8 - 10 mm, màu xanh lá cây nhạt, trên lưng có 2 sọc trang dọc theo cơ thé, nhộng màu nâu đen, trứng nhỏ, màu vàng nhạt. Sâu xanh ăn lá phát sinh gây hại từ khi cây dưa leo còn nhỏ đến có trái, nhiêu nhất là khi cây bat dau ra hoa và có trái non.