mở đầu cho một loạt các nghiên cứu được thiết kế để chứng minh các yếu tố quyết định của WTP có thể tác động đến các nhà quản lý[19]. WTP của người tiêu dùng có thể bị ảnh hưởng bởi các yếu tố hoặc các biến khác nhau, bao gồm đặc điểm kinh tế xã hội: Thu nhập, trình độ học vấn,… và một số biến đo lường “số lượng” của chất lượng môi trường. Nói cách khác, Mức WTP có thể được biểu diễn bằng hàm số như sau: WTP = f(Ii, Ai, Ei, qi) Trong đó: i: chỉ số quan sát hay số người được điều tra; WTP: Mức sẵn sàng chi trả; I: biến thu nhập; A: biến tuổi; E: Biến trình độ học vấn; q: biến đo lường “số lượng” của chất lượng môi trường. Các biến thuộc đặc điểm kinh tế xã hội của người được điều tra có thể ảnh hưởng như: Tuổi, ngành nghề, nơi sống, học vấn, thu nhập,…Các biến đo lường “số lượng” của chất lượng môi trường ở đây niên được hiểu là chất lượng của hàng hoá hay dịch vụ mà nghiên cứu đang xem xét.
Môi trường cạnh tranh hay các sản phẩm thay thế cũng có ảnh hưởng lên WTP[19]. Khái niệm về mức sẵn sàng chi trả cho dịch vụ khám sức khoẻ định kỳ của NCT. Mức sẵn sàng chi trả cho dịch vụ khám sức khoẻ định kỳ của NCT là mức giá tối đa (đơn vị là đồng) mà NCT chấp nhận chi trả cho dịch vụ khám sức khoẻ định kỳ trong một khoảng thời gian nhất định. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Sự gia tăng người cao tuổi trên thế giới và ở Việt Nam 1. Người cao tuổi trên thế giới Già hóa dân số là một hiện tượng vừa mang tính tự nhiên vừa mang tính xã hội, có tác động mạnh mẽ đến đời sống kinh tế, xã hội của một quốc gia. Đây là dấu hiệu đặc trưng của thời đại, nó đánh dấu sự thành công của quá trình chuyển đổi nhân khẩu học với sự kết hợp giảm nhanh, giảm mạnh mức chết, mức sinh, làm thay đổi cơ cấu dân số tuổi và phân bố dân số của từng nhóm tuổi, làm tỷ lệ NCT tăng lên trong cơ cấu dân số. Già hóa dân số là một trong những xu hướng quan trọng nhất của thế kỷ 21.
Trên thế giới, cứ một giây, có hai người tổ chức sinh nhật tròn 60 tuổi – trung bình một năm có gần 58 triệu người tròn 60 tuổi. Hiện nay trên thế giới cứ chín người có một người từ 60 tuổi trở lên và con số này dự tính đến năm 2050 tăng lên là cứ năm người có một người từ 60 tuổi trở lên. Do vậy hiện tượng già hóa dân số không thể không được quan tâm[18]. Dân số được gọi là già hóa khi người cao tuổi chiếm tỷ trọng tương đối lớn trong toàn bộ dân số.
Tỷ suất sinh giảm và tuổi thọ tăng là hai yếu tố dẫn đến già hóa dân số. Tuổi thọ trung bình đã gia tăng đáng kể trên toàn thế giới. Giai đoạn năm 2010-2015, tuổi thọ trung bình của các nước phát triển là 78, và của các nước đang phát triển là 68 tuổi. Đến những năm 2045 – 2050, tuổi thọ trung bình tăng lên đến 83 tuổi ở các nước phát triển và 74 tuổi ở các nước đang phát triển[14].
Năm 1950, toàn thế giới có 214 triệu người từ 60 tuổi trở lên. Năm 1975, số người cao tuổi tăng lên đến gần 350 triệu người. Đến năm 2000, số người cao tuổi tăng lên đến gần 590 triệu người. Dự tính con số này đạt 1120 triệu người vào năm 2025 và đến năm 2050 tăng gấp đôi là 2 tỷ người.
Có sự khác biệt lớn giữa các vùng. Ví dụ, năm 2012, Châu Phi có 6 % dân số tuổi từ 60 trở lên, trong khi con số này ở Châu Mỹ La Tinh và vùng biển Caribe là 10%, ở Châu Á là 11%, Châu Đại dương là 15%, Nam Mỹ là 19% và Châu Âu là 22%. Đến năm 2050, dự báo tỷ trọng người cao tuổi từ 60 tuổi trở lên ở Châu Phi tăng lên chiếm 10% tổng dân số, so với 24% ở Châu Á, 24% ở Châu Đại dương, 25% ở Châu Mỹ La Tinh và vùng biển Caribe, 27% ở Nam Mỹ và 34% ở Châu Âu. Trên toàn cầu, phụ nữ chiếm đa số TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 trong dân số cao tuổi.
Hiện nay trên thế giới, cứ 100 phụ nữ từ 60 tuổi trở lên thì chỉ có 84 nam giới. Cứ 100 phụ nữ từ 80 tuổi trở lên thì chỉ có 61 nam giới. Nam giới và phụ nữ trải qua giai đoạn tuổi già một cách khác nhau. Mối quan hệ về giới tác động tới toàn bộ quá trình sống, ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận các nguồn lực và cơ hội một cách liên tục cũng như tích lũy[14].
Số người từ 60 tuổi trở lên: Toàn thế giới, các nước phát triển, các nước đang phát triển. 1950-2050 ■ Các nước phát triển ■ Các nước đang phát triển Nguồn: UNDESA, Báo cáo thế giới về già hóa dân số năm 2011 (2012), dựa trên dự báo trung bình của UNDESA, Dự báo dân số thế giới. Số lượng cao tuổi trên thế giới (1950-2050)[4] 1. Người cao tuổi ở Việt Nam Cùng với xu hướng chung của thế giới, quá trình già hoá dân số ở Việt Nam cũng đang diễn ra với tốc độ ngày càng nhanh, qui mô ngày càng lớn.
Chỉ số già hoà được biểu thị bằng số lượng người từ 60 (hoặc 65) tuổi trở lên trên 100 người dưới 15 tuổi. Chỉ tiêu này cho biết, trong tập hợp dân số nghiên cứu, cứ 100 trẻ em dưới 15 tuổi có bao nhiêu người già từ 60 (hoặc 65) tuổi trở lên.2 cho thấy, chỉ số già hóa của dân số Việt Nam tăng mạnh trong 35 năm qua. Nếu như năm 1979, cứ 100 trẻ em dưới 15 tuổi chỉ có 16,6 người từ 60 tuổi trở lên, thì sau 20 năm (1999) chỉ số này đã tăng 1,5 lần và đến năm 2014, chỉ số này cao gấp gần 3 lần so với năm 1979. Trong số 10 nước ASEAN, chỉ số già hóa của Việt Nam (tính cho TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 dân số từ 65 tuổi trở lên) chỉ thấp hơn 2 nước Singapore và thái Lan (Hình 1.
Chỉ số già hóa của Việt Nam cao hơn hẳn các nước khác như Lào, Campuchia và Philippine[4]. Chỉ số già hóa tăng lên phản ảnh sự tăng lên về sức khỏe và tuổi thọ của người dân. Già hóa trở thành vấn đề lớn nếu chúng ta không chuẩn bị tốt một hệ thống an sinh xã hội và chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi. Chỉ số già hóa, Việt Nam, 1979-2014[4] Hình 1.
Chỉ số già hóa (65+) của các nước ASEAN, 2015[4] Tỉ lệ người cao tuổi của dân số giữa khu vực thành thị và nông thôn; giữa các vùng kinh tế - xã hội là khác nhau. Đối với chỉ số tính cho dân số từ 60 tuổi trở lên, TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 11 chỉ số già hóa của khu vực thành thị cao hơn khu vực nông thôn 2,7 điểm phần trăm (46,4% so với 43,7%). Trong số 6 vùng kinh tế - xã hội, Đồng bằng sông hồng có chỉ số già hóa cao nhất, tiếp theo là vùng bắc trung bộ và Duyên hải miền trung và vùng Đồng bằng sông Cửu Long, thấp nhất là tây Nguyên và trung du Miền núi phía bắc. Ở vùng Đồng bằng sông hồng, cứ 100 trẻ em dưới 15 tuổi có tới 56,8 người già từ 60 tuổi trở lên, trong khi ở tây Nguyên, cứ 100 trẻ em dưới 15 tuổi chỉ có 23,6 người già từ 60 tuổi trở lên[4].
Trong những năm tới, tuổi thọ trung bình của dân số Việt Nam tiếp tục gia tăng trong khi tổng tỷ suất sinh tiếp tục giảm hoặc duy trì ở mức thấp làm cho dân số Việt Nam trong tương lai ngày một già đi. Nếu như hiện tại (2014), tỷ số già hóa tính cho dân số từ 60 tuổi trở lên là 43,3%, có nghĩa là cứ khoảng 100 trẻ em dưới 15 tuổi mới có 43,3 người già từ 60 tuổi trở lên, thì hiện sau 10 năm nữa, đến năm 2024, tỷ số này là 61,1%, và tiếp theo một thập kỷ nữa, đến năm 2034, tỷ số này là 96,7%, tức là cứ 1 trẻ em đã có gần 1 người già. Vào cuối thập niên 40 của thế kỷ XXI (khoảng năm 2047), trong dân số Việt Nam, số người già (60 tuổi trở lên) nhiều gấp rưỡi số trẻ em[4]. Dự báo cho thấy tỷ lệ người cao tuổi còn tăng nhanh trong thời gian tới.
Việt Nam ngày càng đối mặt với thách thức về già hóa dân số, bởi ở Việt Nam, rất nhiều người già vẫn phải phụ thuộc kinh tế vào người khác và hay mắc các bệnh mãn tính và cấp tính. Các chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cần được xây dựng/sửa đổi cho phù hợp với xu hướng dân số ngày càng già đi. Nhà nước cần có chiến lược xây dựng cơ sở vật chất y tế để có thể đảm bảo việc chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Dự báo chỉ số già hóa của Việt Nam, 2014-2034[4] 1. Vấn đề sức khoẻ người cao tuổi và một số yếu tố liên quan đến mức sẵn sàng chi trả cho dịch vụ chăm sóc sức khoẻ ở người cao tuổi 1. Sức khoẻ và chăm sóc sức khoẻ người cao tuổi Tuổi già, tự nó không phải là một bệnh nhưng có nguy cơ xuất hiện và phát triển bệnh. Thách thức lớn nhất đối với việc chăm sóc sức khỏe người cao tuổi hiện nay là mô hình và nguyên nhân bệnh tật của NCT đang thay đổi nhanh chóng khiến cho gánh nặng “bệnh tật kép” ngày càng rõ.
Một mặt, NCT đang phải chịu nhiều bệnh do lão hóa gây ra; mặt khác, NCT cũng phải chịu các bệnh phát sinh do thay đổi lối sống dưới tác động của quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế. Những bệnh thường gặp ở người cao tuổi là các bệnh mạn tính như: bệnh mạch vành, tăng huyết áp, đột quỵ, đái tháo đường, ung thư, bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính, thoái hóa khớp, loãng xương, sa sút trí tuệ, trầm cảm, mù loà và giảm thị lực. Nếu so sánh với tỉ lệ dân số, thì tỷ lệ và mắc bệnh của NCT cao gấp 2-3 lần nhóm dân số khác. Hơn nữa khả năng hồi phục bệnh ở người già lâu hơn so với nhóm đối tượng khác.
Chính vì vậy việc khám TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 13 sức khoẻ định kỳ là rất cần thiết để phát hiện sớm bệnh, chữa bệnh kịp thời để tránh hoặc kéo dài thời gian chuyển sang mạn tính, di chứng. Về phương diện y tế, mô hình tổ chức hệ thống chăm sóc sức khoẻ cho NCT có sự khác nhau giữa các nước trên thế giới.