Đồ án Y tế: Khảo sát kiến thức thái độ thực hành của nhân viên y tế về

Khảo sát kiến thức thái độ thực hành của nhân viên y tế về việc báo cáo phản ứng có hại của thuốc tại bệnh viện đa khoa phục vụ n

Trường đại học

Trường Đại Học Lạc Hồng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Đồ Án Tốt Nghiệp Thạc Sĩ

2025

88
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Khái Niệm Về Kiến Thức Thái Độ và Thực Hành trong Y Tế

Kiến thức, thái độ, thực hành (KAP - Knowledge, Attitude, Practice) là ba yếu tố cốt lõi trong việc đánh giá năng lực và hành vi của nhân viên y tế. Kiến thức đề cập đến thông tin, hiểu biết về các quy trình y tế; thái độ phản ánh quan điểm, niềm tin của cán bộ đối với công việc; thực hành là hành động thực tế trong môi trường lâm sàng. Mô hình KAP được áp dụng rộng rãi trong nghiên cứu báo cáo phản ứng có hại của thuốc (ADR). Việc khảo sát kiến thức, thái độ, thực hành giúp xác định mức độ hiểu biết của nhân viên y tế về ADR, đồng thời phát hiện các rào cản trong quá trình báo cáo phản ứng có hại. Điều này rất quan trọng để xây dựng hệ thống giám sát ADR hiệu quả và nâng cao chất lượng chăm sóc bệnh nhân.

1.1. Định Nghĩa Kiến Thức Y Tế

Kiến thức y tế là tập hợp các thông tin chuyên môn mà nhân viên y tế cần nắm vững để thực hiện công việc an toàn và hiệu quả. Trong lĩnh vực báo cáo ADR, kiến thức bao gồm hiểu biết về định nghĩa phản ứng có hại của thuốc, các loại ADR, quy trình báo cáo ADR và tầm quan trọng của việc báo cáo. Nghiên cứu khảo sát kiến thức giúp xác định mức độ hiểu biết của nhân viên y tế, từ đó đưa ra các biện pháp đào tạo phù hợp.

1.2. Vai Trò Thái Độ trong Báo Cáo ADR

Thái độ là yếu tố quan trọng quyết định hành vi của nhân viên y tế trong báo cáo phản ứng có hại. Một thái độ tích cực đối với báo cáo ADR sẽ tăng tỷ lệ nhân viên y tế chủ động báo cáo phản ứng có hại của thuốc. Ngược lại, thái độ tiêu cực hay chủ quan có thể dẫn đến việc bỏ qua các ADR quan trọng, ảnh hưởng đến an toàn bệnh nhân.

II. Thực Trạng Báo Cáo Phản Ứng Có Hại của Thuốc

Tại Bệnh viện Đa khoa khu vực Long Thành, nghiên cứu khảo sát kiến thức, thái độ, thực hành của nhân viên y tế về báo cáo ADR đã phát hiện những vấn đề đáng lo ngại. Mặc dù tỷ lệ cán bộ từng gặp ADR khá cao (79,4%), nhưng tỷ lệ đã từng báo cáo ADR chỉ đạt 43,3%, cho thấy sự chênh lệch lớn giữa thực hành báo cáo. Điều này phản ánh rõ những rào cản trong quá trình báo cáo phản ứng có hại của thuốc. Các nhân viên y tế cho rằng báo cáo ADR không ảnh hưởng đến phác đồ điều trị (51,0%), thiếu kinh phí (28,7%) và mất thời gian (22,7%). Những yếu tố này cần được khắc phục để nâng cao chất lượng báo cáo ADR và bảo vệ an toàn bệnh nhân.

2.1. Tỷ Lệ Phát Hiện và Báo Cáo ADR

Trong số 247 nhân viên y tế được khảo sát, 79,4% đã từng gặp phản ứng có hại của thuốc trong thực hành lâm sàng, nhưng chỉ 43,3% đã báo cáo. Khoảng cách này cho thấy rào cản báo cáo ADR đáng kể. Cần tăng cường đào tạo kiến thức và cải thiện quy trình báo cáo phản ứng có hại để nâng cao thực hành báo cáo ADR.

2.2. Các Rào Cản trong Báo Cáo ADR

Các rào cản báo cáo ADR bao gồm: (1) Nhân viên y tế cho rằng báo cáo ADR không ảnh hưởng đến phác đồ điều trị (51,0%); (2) Thiếu kinh phí để thực hiện báo cáo (28,7%); (3) Mất thời gian trong quá trình báo cáo phản ứng có hại (22,7%). Những rào cản này cần được loại bỏ bằng cách nâng cao kiến thức, thái độ và cung cấp hỗ trợ từ bệnh viện.

III. Đánh Giá Kiến Thức Của Nhân Viên Y Tế Về ADR

Kết quả khảo sát kiến thức cho thấy tỷ lệ trả lời đúng câu hỏi về ADR là 84,54%, phản ánh kiến thức nền tảng khá tốt của nhân viên y tế. Tuy nhiên, kiến thức về ADR không được phân bố đều giữa các chuyên ngành. Bác sĩ, dược sĩ lâm sàng và điều dưỡngkiến thức cao hơn so với các dược sĩ khác. Một điểm tích cực là 78,9% nhân viên y tế đã tham gia đào tạo về ADR, cho thấy bệnh viện có chú trọng đến kiến thức ADR. Tuy nhiên, cần nâng cao chất lượng đào tạo để đảm bảo tất cả nhân viên y tế, đặc biệt là những người chưa tham gia, có kiến thức đầy đủ về báo cáo phản ứng có hại của thuốc.

3.1. Mức Độ Hiểu Biết Chung

Tỷ lệ trả lời đúng 84,54% cho thấy phần lớn nhân viên y tế có kiến thức chính xác về ADRbáo cáo phản ứng có hại. Tuy nhiên, vẫn còn 15,46% nhân viên y tế trả lời sai, cho thấy cần đào tạo bổ sung. Đào tạo định kỳđào tạo theo chuyên đề cần được thực hiện để nâng cao kiến thức ADR của toàn thể nhân viên y tế.

3.2. Sự Khác Biệt Kiến Thức Theo Chuyên Ngành

Bác sĩ, dược sĩ lâm sàng, điều dưỡng và kỹ thuật viênkiến thức cao hơn nhóm dược sĩ khác, phản ánh tiếp xúc trực tiếp với bệnh nhân và phản ứng dị ứng. Nhóm dược sĩ hành chính cần đào tạo bổ sung để hiểu rõ hơn về quy trình báo cáo ADR và tầm quan trọng của báo cáo phản ứng có hại của thuốc.

IV. Thái Độ và Thực Hành Báo Cáo ADR của Nhân Viên Y Tế

Thái độ của nhân viên y tế đối với báo cáo ADR nhìn chung tích cực, tuy nhiên chỉ 81,8% đồng ý rằng báo cáo ADR nên bắt buộc đối với tất cả nhân viên y tế. Điều này cho thấy vẫn còn một bộ phận nhân viên y tế chưa thể hiện thái độ hoàn toàn tích cực về báo cáo phản ứng có hại. Sự chênh lệch giữa thái độ tích cựcthực hành báo cáo thực tế (43,3%) cho thấy cần có các biện pháp hỗ trợ thực hành cụ thể. Cải thiện hệ thống báo cáo ADR, giảm bớt thời gian báo cáo, cung cấp tài liệu hướng dẫntạo văn hóa báo cáo ADR an toàn là những giải pháp thiết thực để nâng cao thực hành báo cáo phản ứng có hại của thuốc.

4.1. Thái Độ Tích Cực Đối Với Báo Cáo ADR

Phần lớn nhân viên y tế biểu hiện thái độ tích cực với báo cáo ADR, tuy nhiên chỉ 81,8% đồng ý báo cáo bắt buộc. Sự không đồng ý này có thể do lo lắng về trách nhiệm pháp lý hoặc văn hóa đổ lỗi. Cần tuyên truyền rõ ràng về lợi ích báo cáo ADRbảo vệ báo cáo viên để nâng cao thái độ toàn diện.

4.2. Khoảng Cách Giữa Thái Độ và Thực Hành

Mặc dù thái độ tích cực, nhưng thực hành báo cáo ADR chỉ đạt 43,3%, cho thấy rào cản thực hành đáng kể. Cần đơn giản hóa quy trình báo cáo, cung cấp tài liệu hướng dẫn, tạo hệ thống báo cáo điện tửhỗ trợ tập trung để nâng cao thực hành báo cáo phản ứng có hại của thuốc đến mức tương xứng với thái độ tích cực.

28/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Thuốc đóng vai trò quan trọng trong việc điều trị và chăm sóc sức khỏe cho người bệnh. Khi sử dụng, bên cạnh những hiệu quả trị liệu được công nhận thì việc sử dụng thuốc còn tiềm ẩn những nguy cơ xuất hiện các phản ứng có hại nghiêm trọng, thậm chí gây tử vong cho bệnh nhân (Pirmohamed, 2004). Theo các nghiên cứu được công bố, phản ứng có hại của thuốc (Adverse Drug Reaction hay ADR) là một trong những nguyên nhân làm tăng tỷ lệ mắc bệnh, tỷ lệ tử vong, kéo dài thời gian nằm viện, giảm tuân thủ điều trị và tăng chi phí điều trị gây nên gánh nặng kinh tế cho người bệnh ( Lazarou J, 1998), (Imbs,1999). Phản ứng có hại của thuốc (Adverse Drug Reaction hay ADR) là một trong những vấn đề quan trọng của nền y tế Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung.

ADR được cho rằng liên quan đến hơn 2 triệu đợt nhập viện và hơn 100 ngàn ca tử vong hàng năm và là nguyên nhân tử vong đứng thứ 4 tại Hoa Kỳ (Bonn, 1998). ADR làm tăng thời gian nhập viện trung bình của bệnh nhân từ khoảng 8 ngày lên khoảng 20 ngày (Davies, 2009). ADR cũng gây tổn hại cho nền kinh tế Hoa Kỳ khoảng hơn 30 tỷ đô la mỗi năm vì nó làm tăng số lần nhập viện, cũng như chi phí điều trị và phân tích ADR ( Sultana J, 2013). Theo các nghiên cứu được công bố, khoảng 32 – 80% ADR có thể phòng tránh được (Jonville-Béra, 2009).

Do vậy, nếu có thể xây dựng hệ thống thông tin ADR hoàn chỉnh, đầy đủ và chi tiết, hệ thống y tế có thể giảm thiếu tối đa các hậu quả không mong muốn đối với sức khỏe cũng như giảm áp lực kinh tế cho người bệnh. Nhằm giảm thiểu những hậu quả của ADR gây nên, hầu hết các quốc gia trên thế giới đã thiết lập hệ thống Cảnh giác Dược cũng như báo cáo ADR quốc gia. Việt Nam đã chính thức gia nhập mạng lưới báo cáo ADR quốc tế từ năm 1999 và đã thành lập hai Trung tâm Thông tin thuốc và Cảnh giác Dược tại Đại học Dược Hà Nội và Bệnh viện Chợ Rẫy vào năm 2009 và 2011 ( Nguyen-Thi HY, 2022). Báo cáo tự nguyện về ADR của nhân viên y tế là một trong những nguồn thông tin quan trọng trong việc phân tích ADR của các trung tâm thông tin thuốc quốc gia cũng như trên toàn cầu vì nhân viên y tế là người trực tiếp điều trị, quan sát bệnh nhân nên có cơ hội phát hiện và phân tích ADR đầu tiên.

Tuy nhiên, hiện nay theo nhiều báo cáo trên thế giới thì tỷ lệ báo cáo tự nguyện của nhân viên y tế cũng còn rất thấp (Hazell L, 2006), (Trung tâm DI & ADR Quốc gia, 2013). 2 Bệnh viện đa khoa khu vực Long Thành là một trong những bệnh viện lớn của tỉnh Đồng Nai với quy mô 510 giường bệnh. Bệnh viện tiếp nhận điều trị một số lượng lớn bệnh nhân với tình trạng bệnh đa dạng và sử dụng rất nhiều loại thuốc khác nhau. Do vậy, việc xuất hiện những ADR trong quá trình điều trị và chăm sóc bệnh nhân là điều không thể tránh khỏi.

Bệnh viện đã thiết lập hệ thống báo cáo ADR tại khoa Dược nhằm giúp tất cả các nhân viên y tế báo cáo ADR kịp thời. Tuy nhiên, hiện nay việc thực hiện báo cáo ADR tại bệnh viện chưa được thực hiện một cách đầy đủ và chi tiết. Do đó, cần có một nghiên cứu khảo sát về thực trạng báo cáo ADR cũng như về kiến thức, thái độ, thực hành về báo cáo ADR tại Bệnh viện Đa khoa Khu vực Long Thành, cũng như trên địa bàn tỉnh Đồng Nai để đánh giá mức độ hiểu biết và thực trạng báo cáo ADR tại đây. Do đó, chúng tôi thực hiện nghiên cứu “Khảo sát kiến thức, thái độ, thực hành của nhân viên y tế về việc báo cáo phản ứng có hại của thuốc tại Bệnh viện Đa khoa khu vực Long Thành năm 2024”.

Mục tiêu cụ thể: - Mô tả thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành của nhân viên y tế đối với hoạt động báo cáo phản ứng có hại của thuốc tại Bệnh viện Đa khoa Khu vực Long Thành năm 2024. - Xác định một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành của nhân viên y tế đối với hoạt động báo cáo phản ứng có hại của thuốc tại Bệnh viện Đa khoa Khu vực Long Thành. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về bệnh viện đa khoa khu vực Long Thành Bệnh viện đa khoa khu vực Long Thành là Bệnh viện hạng II tuyến tỉnh với quy mô 510 giường bệnh.

Bệnh viện nhận hỗ trợ chuyên môn từ Bệnh viện Thống Nhất, Bệnh viện Chợ Rẫy thành phố Hồ Chí Minh, Bệnh viện Đồng Nai, Bệnh viện Thống Nhất Đồng Nai, Bệnh viện Nhi Đồng Nai. Bệnh viện đa khoa khu vực Long Thành Tọa lạc tại số 1, Lý Thái Tổ, khu Phước Hải, thị trấn Long Thành. Bệnh viện nằm trên trục lộ giao thông huyết mạch từ thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Biên Hòa đi Bà Rịa -Vũng Tàu. Huyện Long Thành thuộc tỉnh Đồng Nai.

Đây là một trong những là vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, nơi có nhiều dự án lớn mang tầm quốc gia như: Cảng hàng không quốc tế Long Thành, các tuyến cao tốc Long Thành - thành phố Hồ Chí Minh - Dầu Giây, cao tốc Biên Hòa- Long Thành, cao tốc Bến Lức - Long An - Long Thành. Tại huyện Long Thành tập trung nhiều khu công nghiệp lớn. Long Thành tiếp 4 giáp các huyện Thống Nhất, Cẩm Mỹ, Nhơn Trạch, thành phố Biên hòa của tỉnh Đồng Nai; huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Với những đặc điểm trên, Long Thành thu hút hàng trăm ngàn người lao động từ nhiều vùng miền trên cả nước đến làm việc và sinh sống.

Do đó, mô hình bệnh tật tại khu vực Long Thành rất đa dạng, đòi hỏi sử dụng nhiều loại thuốc khác nhau. Cơ cấu tổ chức Gồm Ban giám đốc, 5 phòng chức năng, 12 khoa lâm sàng, 6 khoa cận lâm sàng. Tổng số cán bộ viên chức là 324. Sơ đồ tổ chức Bệnh viện Đa khoa Khu Vực Long Thành - Điều dưỡng, hộ sinh và kỹ thuật viên: 157 cán bộ (với 3 cán bộ trình độ sau đại học, 33 cán bộ trình độ đại học và 121 cán bộ trình độ cao đẳng).

- Viên chức chuyên ngành khác: 74 cán bộ (tài chính kế toán, hành chính quản trị, công nghệ thông tin, hộ lý). Chức năng nhiệm vụ Bệnh viện có nhiệm vụ khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân trên địa bàn và các vùng lân cận, đào tạo và nghiên cứu khoa học, phòng chống dịch bệnh, truyền thông giáo dục sức khỏe, cung ứng các dịch vụ về y tế. - Cấp cứu đa khoa: bệnh viện tiếp nhận cấp cứu tất cả các bệnh lý về nội, ngoại, sản, nhi, nhiễm, tai mũi họng và răng hàm mặt. Cấp cứu các trường hợp tai nạn thương tích (như tai nạn giao thông, tai nạn lao động, đả thương,.

- Phòng khám chuyên khoa: bệnh gồm các chuyên khoa: nội tổng hợp, tim mạch- lão học, nội tiết, hô hấp; ngoại, nhi, nhiễm, mắt, răng hàm mặt, tai mũi họng, da liễu, phục hồi chức năng,… Triển khai Câu lạc bộ bệnh nhân “Hen - COPD”; Câu lạc bộ bệnh nhân “ Đái tháo đường”. - Hệ thống xét nghiệm - chẩn đoán hình ảnh - thăm dò chức năng: + Xét nghiệm: bệnh viện thực hiện các xét nghiệm như tế bào máu ngoại vị, xét nghiệm sinh hóa, điện giải, đánh giá chức năng các cơ quan, xét nghiệm ký sinh trùng, tầm soát ung thư,. + Chẩn đoán hình ảnh: C.T Scanner 16 lát cắt, X-Quang cao tần, siêu âm tim, siêu âm mạch máu 3D, 4D; siêu âm các loại ung bướu, siêu âm tuyến giáp,… + Thăm dò chức năng: đo điện tim, đo chức năng hô hấp (hô hấp ký), đo điện não, nội soi tiêu hóa,… - Hệ thống điều trị bệnh nhân nội trú gồm: khoa hồi sức tích cực và chống độc, phẫu thuật gây mê hồi sức, nội tổng hợp, nội tim mạch, ngoại tổng hợp, sản - phụ khoa, nhi, nhiễm, liên chuyên khoa; phục hồi chức năng, y học cổ truyền, đơn vị thận nhân tạo. - Phẫu thuật cấp cứu ngoại, sản - phụ khoa, cấp cứu ngoại viện.

- Phòng chống dịch bệnh, tuyền thông giáo dục sức khỏe. - Cung ứng các dịch vụ y tế:  Khám sức khỏe tổng quát định kỳ cho công nhân, người lao động. 6  Khám sức khỏe tuyển dụng lao động, học sinh - sinh viên; khám sức khỏe lái xe các hạng.  Hợp đồng cấp cứu tại chỗ các công ty, xí nghiệp, nhà máy, công trường của các khu công nghiệp, công trường các khu giải phóng mặt bằng Cảng hàng không quốc tế Long Thành.

 Tập huấn sơ cấp cứu cho lực lượng công nhân, người lao động.  Khám và tư vấn sức khỏe cho bệnh nhân hậu COVID-19. Tổng quan về phản ứng có hại của thuốc 1. Khái niệm về phản ứng có hại (ADR) của thuốc Phản ứng có hại của thuốc được giải thích tại khoản 35 Điều 2 Luật Dược 2016 như sau: Phản ứng có hại của thuốc là phản ứng không mong muốn, có hại đến sức khỏe, có thể xảy ra ở liều dùng bình thường (Bộ Y tế, 2016).

Chương trình giám sát thuốc của Tổ chức Y tế thế giới đưa ra một định nghĩa về phản ứng có hại của thuốc như sau (WHO, 1972): “ Phản ứng có hại của thuốc là phản ứng độc hại, không được định trước, xuất hiện ở liều thường dùng cho người để phòng bệnh, chẩn đoán hay chữa bệnh hoặc nhằm thay đổi một chức năng sinh lý. Định nghĩa này không bao gồm các trường hợp thất bại trị liệu, quá liều, lạm dụng thuốc, không tuân thủ và sai sót trong trị liệu ” (WHO, 2012). Phản ứng có hại của thuốc có thể dự đoán được (nghĩa là có thể kiểm soát, có thể tránh được hoặc không) hoặc không thể dự đoán được; nó có thể xảy ra thường xuyên hoặc không thường xuyên đối với một thuốc hay nhiều thuốc mà hậu quả của nó có thể nghiêm trọng hoặc không nghiêm trọng. Việc phát hiện nhanh chóng những phản ứng có hại phụ thuộc vào thời gian xử trí và công tác tổ chức hệ thống Cảnh giác Dược (WHO, 2012).

Sự cần thiết của công tác cảnh giác dược và báo cáo ADR tại bệnh viện Trước khi thuốc hoặc sản phẩm thuốc mới được đưa vào thị trường, các công ty sản xuất dược phẩm đã phải tiến hành nhiều thử nghiệm lâm sàng và báo cáo kết quả đối với các cơ quan quản lý để được cấp phép lưu hành thuốc.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ