ĐẶT VẤN ĐỀ Vắc xin là thuốc chứa kháng nguyên tạo cho cơ thể khả năng đáp ứng miễn dịch đƣợc dùng với mục đích phòng bệnh, chữa bệnh. Sự ra đời của vắc xin là một thành tựu Y học vĩ đại của con ngƣời vào Thế kỷ XIX. Cho đến nay đã có gần 30 bệnh nhiễm trùng có thể dự phòng đƣợc bằng vắc xin nhƣ sởi, bạch hầu, thủy đậu, cúm, lao,. Ngoài việc làm giảm tỷ lệ mắc bệnh và tử vong, làm cho trẻ em khỏe mạnh phát triển thể chất và trí não bình thƣờng, vắc xin còn giảm mắc các bệnh khác, giảm số ngày ốm và nhập viện, giảm chi phí chăm sóc y tế, đặc biệt giảm thời gian và công sức của phụ nữ do không phải chăm sóc trẻ bị bệnh cũng nhƣ làm giảm số trẻ sinh ra do không phải lo trẻ bị ốm và chết, góp phần nâng cao sức khỏe của phụ nữ, giảm tình trạng tàn phế hay mất khả năng lao động do bệnh tật gây nên [24].
Tại Việt Nam, Chƣơng trình TCMR ƣớc tính dự phòng cho 6,7 triệu trẻ khỏi mắc bệnh và 43.000 trẻ khỏi bị tử vong do các bệnh lao, bạch hầu, ho gà, uốn ván, và sởi. Có thể nói đây là một trong những thành tựu lớn nhất mà ngành Y tế Việt Nam đã đạt đƣợc trong những năm qua trong bối cảnh Việt Nam còn là một nƣớc nghèo thu nhập bình quân đầu ngƣời còn thấp [24]. Tính riêng tại tỉnh Tiền Giang, sau hơn 30 năm triển khai thực hiện công tác TCMR, đã đƣợc công nhận thanh toán bệnh bại liệt vào năm 2000, loại trừ uốn ván sơ sinh vào năm 2005, các bệnh truyền nhiễm trong chƣơng trình TCMR đều giảm hoặc không xảy ra [27]. Mặc dù vắc xin là an toàn, nhƣng không phải hoàn toàn không có nguy cơ, chẳng hạn có thể có phản ứng sau tiêm chủng (PƢSTC) xuất hiện sau sử dụng vắc xin [24].
Để đạt đƣợc hiệu quả chủng ngừa cao nhất và giúp làm giảm những phản ứng sau tiêm chủng thì việc bảo quản vắc xin ở nhiệt độ quy định là vấn đề hết sức quan trọng [6]. Do đó, công tác quản lý, bao gồm cả việc mua sắm, vận chuyển và bảo quản vắc xin đúng cách luôn đƣợc theo dõi một cách nghiêm ngặt [37]. Bộ Y tế đã ban hành nhiều quy định, thông tƣ để hƣớng dẫn các cơ sở y tế thực hiện tốt công tác bảo quản vắc xin và duy trì công tác thực hành bảo quản thuốc tại các cơ sở y tế. Tuy nhiên, tại các cơ sở y tế trên địa bàn tỉnh Tiền Giang, hiện nay chƣa có.
một nghiên cứu nào thực hiện việc đánh giá chất lƣợng tiêm chủng, đặc biệt là công tác bảo quản vắc xin, điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị bảo quản, kiến thức của nhân viên y tế quản lý và bảo quản vắc xin. Trên cơ sở thực tiễn đó, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu “Khảo sát kiến thức về bảo quản vắc xin và đề xuất giải pháp khắc phục những tồn tại và duy trì GSP tại các cơ sở y tế công lập trên địa bàn tỉnh Tiền Giang giai đoạn 2020-2021” với các mục tiêu nghiên cứu nhƣ sau: 1. Mục tiêu nghiên cứu Khảo sát kiến thức bảo quản vắc xin và đề xuất giải pháp khắc phục những tồn tại và duy trì GSP tại các cơ sở y tế công lập trên địa bàn tỉnh Tiền Giang giai đoạn 2020-2021. Mục tiêu cụ thể 1.
Khảo sát kiến thức về vắc xin và GSP của nhân viên y tế liên quan trực tiếp đến chuỗi cung ứng vắc xin trên địa bàn bàn tỉnh Tiền Giang; 2. Đánh giá sự duy trì GSP và xác định các mức độ tồn tại tại các cơ sở y tế công lập có bảo quản vắc xin TCMR trên địa bàn tỉnh Tiền Giang; 3. Đề xuất các giải pháp can thiệp có hiệu quả để đạt và duy trì GSP tại các cơ sở y tế công lập có bảo quản vắc xin TCMR trên địa bàn tỉnh Tiền Giang. CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Vắc xin và Tiêm chủng mở rộng 1. Vắc xin Khái niệm: Vắc xin là thuốc chứa kháng nguyên tạo cho cơ thể khả năng đáp ứng miễn dịch, đƣợc dùng với mục đích phòng bệnh, chữa bệnh [26]. Vắc xin là chế phẩm sinh học có tính kháng nguyên, có nguồn gốc từ vi sinh vật (có thể toàn thân hoặc một phần hoặc có cấu trúc tƣơng tự) dùng để tạo miễn dịch đặc hiệu chủ động, nhằm tăng sức đề kháng của cơ thể đối với một số tác nhân gây bệnh cụ thể: Vắc xin có các đặc tính gồm: - Tính kháng nguyên đặc thù: Là khả năng kích thích cơ thể tạo thành kháng thể. Kháng nguyên mạnh là kháng nguyên khi đƣa vào cơ thể một lần đã sinh ra nhiều kháng thể.
Kháng nguyên yếu là những chất phải đƣa vào nhiều hoặc phải kèm theo một tá dƣợc mới sinh đƣợc một ít kháng thể; - Tính sinh miễn dịch: Vắc xin gây miễn dịch bằng một vi khuẩn hoặc vi rút giảm độc lực, hoặc với một loại protein đặc hiệu có tính kháng nguyên để gây ra một đáp ứng miễn dịch hiệu quả giúp cho cơ thể đề kháng khi tác nhân gây bệnh xâm nhập vào [28]. Phân loại: Căn cứ vào bản chất sinh học, có thể chia vắc xin thành 4 loại: - Vắc xin giải độc đố: Là loại vắc xin đƣợc sản xuất từ ngoại độc tố của vi khuẩn, đã làm mất tính độc nhƣng vẫn giữ đƣợc tính kháng nguyên nhƣ vắc xin uốn ván, vắc xin bạch hầu; - Vắc xin bất hoạt: Là vắc xin đƣợc sản xuất từ vi sinh vật đã bị giết chết, có thể là protein hoặc polysaccharite nhƣ cúm, bại liệt, dại; - Vắc xin sống giảm độc lực: Loại vắc xin này đƣợc sản xuất từ vi sinh vật gây bệnh đã đƣợc làm giảm độc lực, hoặc làm yếu không còn khả năng gây bệnh bằng cách nuôi cấy nhiều lần trong phòng thí nghiệm nhƣ vắc xin bại liệt, sởi, rubella, quai bị, BCG; - Vắc xin tái tổ hợp: Là những vắc xin đƣợc sản xuất dựa vào kỹ thuật di truyền và công nghệ gen nhƣ vắc xin viêm gan B tái tổ hợp [50]. Tính đến 2017, Thế giới có 33 loại vắc xin dùng để tiêm phòng ngăn ngừa bệnh tật và có 11 vắc xin đang nghiên cứu đƣa vào sử dụng trong thời gian tới [28]. Năm 2021, Thế giới đã nghiên cứu và đƣa vào sử dụng vắc xin phòng bệnh COVID-19.
Tại Việt Nam, từ năm 2011 Bộ Y tế quy định có 11 vắc xin bắt buộc sử dụng trong chƣơng trình TCMR bao gồm vắc xin phòng bệnh lao, bệnh bại liệt, bệnh bạch hầu, bệnh ho gà, bệnh uốn ván, bệnh sởi, bệnh viêm gan vi rút B, bệnh do Hemophilus influenza typ B, bệnh viêm não Nhật Bản, bệnh tả, bệnh thƣơng hàn [5]. Tuy nhiên, đến năm 2017 Bộ Y tế đã phê duyệt thêm vắc xin phòng bệnh rubella bắt buộc sử dụng trong chƣơng trình TCMR và loại khỏi chƣơng trình 02 loại vắc xin đó là vắc xin phòng bệnh tả và bệnh thƣơng hàn. Hiện tại, vắc xin sử dụng bắt buộc trong chƣơng trình TCMR là 11 loại vắc xin bao gồm vắc xin phòng bệnh viêm gan vi rút B, bệnh lao, bệnh bạch hầu, bệnh ho gà, bệnh uốn ván, bệnh bại liệt, bệnh do Haemophilus influenzae týp b, bệnh sởi, bệnh viêm não Nhật Bản B, bệnh rubella [8] và vắc xin phòng bệnh COVID-19 [12]. Quy định bảo quản vắc xin - Vắc xin phải đƣợc bảo quản trong dây chuyền lạnh từ khi sản xuất tới khi sử dụng và ở nhiệt độ phù hợp đối với từng loại vắc xin theo yêu cầu của nhà sản xuất trong hồ sơ đăng ký lƣu hành với Bộ Y tế để đảm bảo an toàn và hiệu quả tiêm chủng [20].
- Vắc xin là sản phẩm sinh học rất nhạy cảm với nhiệt độ. Hiệu lực của vắc xin có thể giảm khi vắc xin tiếp xúc với nhiệt độ cao hoặc nhiệt độ đông băng. Khi đã giảm hiệu lực, vắc xin không thể hồi phục trở lại đƣợc. Để đảm bảo chất lƣợng, vắc xin thƣờng đƣợc bảo quản ở nhiệt độ từ +2oC đến +8oC.
Do đó, vắc xin cần phải đƣợc bảo quản liên tục trong dây truyền lạnh từ khi xuất xƣởng cho tới điểm tiêm chủng và trong suốt buổi tiêm chủng [6]. Nhiệt độ bảo quản vắc xin TCMR tại các tuyến Kho tại các tuyến Vắc xin Quốc gia Khu vực Tỉnh Huyện Cơ sở y tế OPV Bảo quản ở nhiệt độ -15oC đến -25oC BCG Bảo quản ở nhiệt độ +2oC đến +8oC Bảo quản ở nhiệt độ Sởi nhƣng có thể bảo quản ở nhiệt độ từ từ +2oC đến +8oC MR -15oC đến -25oC nếu không đủ chỗ Hib đông khô Hib dung dịch Viêm gan B DPT Bảo quản ở nhiệt độ từ +2oC đến +8oC, không đƣợc để đông DT/TT/Td băng. DPT-VGB-Hib DPT-VGB-IPV-Hib 1. Tiêm chủng mở rộng Tiêm chủng là việc đƣa vắc xin vào cơ thể con ngƣời với mục đích tạo cho cơ thể khả năng đáp ứng miễn dịch để dự phòng bệnh tật.
Tiêm chủng chống dịch là hoạt động tiêm chủng miễn phí do Nhà nƣớc tổ chức cho những ngƣời có nguy cơ mắc bệnh truyền nhiễm tại vùng có dịch, ngƣời đƣợc cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền cử đến vùng có dịch. Thiết bị dây chuyền lạnh là hệ thống thiết bị bảo quản, theo dõi nhiệt độ và vận chuyển vắc xin từ nhà sản xuất đến các điểm tiêm chủng. Sự cố bất lợi sau tiêm chủng là hiện tƣợng bất thƣờng về sức khỏe bao gồm các biểu hiện tại chỗ tiêm hoặc toàn thân xảy ra sau tiêm chủng, không nhất thiết do việc sử dụng vắc xin, bao gồm phản ứng thông thƣờng sau tiêm chủng và tai biến nặng sau tiêm chủng. Tai biến nặng sau tiêm chủng là sự cố bất lợi sau tiêm chủng có thể đe dọa đến tính mạng ngƣời đƣợc tiêm chủng hoặc để lại di chứng hoặc làm ngƣời đƣợc tiêm chủng tử vong [20].
Lịch tiêm chủng thƣờng xuyên trong Chƣơng trình TCMR [4] TT Tuổi của trẻ Vắc xin sử dụng - Tiêm vắc xin Viêm gan B (VGB) mũi 0 trong 24 giờ đầu 1 Sơ sinh sau sinh. - Tiêm vắc xin phòng bệnh Lao (BCG). - Tiêm vắc xin bạch hầu - ho gà - uốn ván - viêm gan B - 2 02 tháng Hib mũi 1 (vắc xin 5 trong 1). - Uống hoặc tiêm vắc xin bại liệt lần 1.
- Tiêm vắc xin bạch hầu - ho gà - uốn ván - viêm gan B - 3 03 tháng Hib mũi 2. - Uống hoặc tiêm vắc xin bại liệt lần 2. - Tiêm vắc xin bạch hầu - ho gà - uốn ván - viêm gan B - 4 04 tháng Hib mũi 3. - Uống hoặc tiêm vắc xin bại liệt lần 3.