CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 GIẢI PHẪU XƯƠNG SÀNG Xương sàng nằm ở phần trước giữa các nền sọ, nằm giữa xương trán và xương bướm, có phần đứng, phần ngang và hai khối bên. Phần đứng ngăn cách hai hốc mũi, phần ngang có những lỗ để sợi thần kinh khứu giác đi qua, hai khối bên có sáu mặt gọi là mê đạo sàng gồm các tế bào chứa không khí và thông vào hốc mũi. Mặt trong khối bên gọi là mảnh cuốn, nơi bám của cuốn mũi giữa, cuốn mũi trên, cuốn mũi trên cùng, bên dưới là mỏm móc và bóng sàng, mặt ngoài khối bên tương ứng với xương giấy9-11.1 Xoang sàng trên thiết đồ đứng ngang và thiết đồ ngang12 Xương sàng bao gồm: - Mảnh sàng. - Mảnh thẳng đứng – mào gà.
- Mê đạo sàng.1 Mảnh sàng Mảnh sàng là một mảnh xương nằm ngang, ở giữa có mào gà dày, hình tam giác là nơi bám của liềm đại não. Bờ trước của mào gà ngắn tạo thành cánh mào gà khớp với xương trán11. Giữa mào gà với xương trán có lỗ tịt ngăn cách. Ở hai bên mào gà là mảnh sàng có nhiều lỗ và các rãnh để thần kinh khướu giác đi qua11.2 Mảnh thẳng đứng Mảnh thẳng đứng là một mảnh xương đứng thẳng góc với mảnh sàng để tạo thành một phần của vách mũi.
Phía trên cùng của mảnh thẳng đứng nối tiếp với mào gà11.3 Mê đạo sàng Mê đạo sàng là 2 khối xương rỗng treo dưới hai bên mảnh sàng, bên trong có nhiều phòng khí không đều gọi là các xoang sàng gồm 3 nhóm trước, giữa và sau9,11. Mê đạo sàng chứa từ 6 đến 10 tế bào sàng mỗi bên, có thể tích chung từ 2 đến 3 ml, số lượng các tế bào sàng có thể khác nhau ở mỗi bên trên cùng một người13. Ở người trên 12 tuổi, xoang sàng có kích thước trung bình phía trước rộng 0,5 cm, phía sau 1,5cm. Độ cao thẳng đứng phía trước trung bình 3 cm, thấp dần về phía sau 1,5 cm, chiều dài trước sau trung bình từ 4 đến 5 cm10,13.
Mê đạo sàng là khối hình thang 6 mặt, gồm: - Thành ngoài: là một phần thành trong ổ mắt (xương giấy). - Thành trong: là thành ngoài hốc mũi, nơi bám xương cuốn mũi giữa, xương cuốn mũi trên, xương cuốn mũi trên cùng. - Thành trên: trần xoang sàng, nơi có ống động mạch sàng trước và ống động mạch sàng sau. - Thành sau: tiếp khớp với xương bướm.
- Thành trước: tiếp khớp với xương lệ và mỏm trán xương hàm trên. - Thành dưới: tiếp giáp xương hàm trên11.4 Trần sàng Trần sàng được hình thành từ phần kéo dài mảnh ổ mắt của xương trán, phân cách những tế bào sàng với hố sọ trước. Phía bên trong, mảnh ổ mắt tiếp. 8 giáp với lá bên của mảnh sàng, chỉ mỏng 0,05 mm10,14.
Vỡ mảnh sàng có thể gây khiếm khuyết xương và màng cứng dẫn đến biến chứng sớm viêm màng não và biến chứng muộn là giảm áp lực nội sọ do rò dịch não tuỷ, thoát vị não, màng não10,15,16. Hình dạng và kích thước trần sàng thay đổi rất nhiều và thường không đối xứng hai bên. Trên trần sàng có hai rãnh khi hợp cùng xương trán tạo ra ống sàng trước và ống sàng sau cho động mạch sàng trước, thần kinh sàng trước, động mạch sàng sau, thần kinh sàng sau đi qua9,11.2 GIẢI PHẪU ĐỘNG MẠCH SÀNG Động mạch sàng là nhánh của động mạch mắt thuộc hệ động mạch cảnh trong. Động mạch mắt có 3 nhóm nhánh bên: - Nhóm thứ nhất xuất phát từ phía dưới ngoài thần kinh thị.
- Nhóm thứ hai xuất phát từ bên trên thần kinh thị. - Nhóm thứ ba xuất phát bên trong thần kinh thị và chạy dọc thành trong hốc mắt gồm: động mạch sàng trước, động mạch sàng sau, động mạch mí và trán trong7,9,17.2 Các nhóm động mạch từ mắt12 Động mạch sàng trước và động mạch sàng sau có thể phân nhánh từ động mạch mắt lần lượt theo dạng chữ F hoặc phân nhánh cùng lúc từ động mạch mắt theo dạng chữ K, khi tách theo dạng chữ K thì vị trí phân tách có thể nằm phía sau lỗ động mạch sàng sau hoặc nằm giữa lỗ động mạch sàng sau và lỗ động mạch sàng trước hoặc ở trước lỗ động mạch sàng trước. Theo nghiên cứu của Shousen Wang thì khoảng 40% động mạch sàng trước và động mạch sàng sau phân nhánh theo dạng F, 20% sẽ phân nhánh dạng K nằm phía sau lỗ động mạch sàng sau, 30% phân nhánh theo dạng K nằm giữa 2 lỗ động mạch sàng và 10% theo dạng K nằm phía trước lỗ động mạch sàng trước18.3 Giải phẫu động mạch sàng cấp máu cho mũi xoang12 Hình 1.4 Động mạch sàng trước và động mạch sàng sau qua ống soi 0 độ19 Mũi tên lớn chỉ động mạch sàng trước; Mũi tên nhỏ chỉ động mạch sàng sau 1.1 Giải phẫu động mạch sàng trước Động mạch sàng trước có đường kính từ 1 đến 2 mm, đường kính trung bình là 0,8 ± 0,24 mm theo Yang (2009)20. Chiều dài động mạch sàng trước.
11 trung bình là 4,4 ± 1,2 mm, dao động từ 3,2 đến 5,6 mm, chiều dài trung bình ống động mạch sàng trước là 3,5 mm8,21.5 Hình ảnh nội soi động mạch sàng trước nằm sau ngách trán22 Động mạch sàng trước tách ra từ động mạch mắt, sau đó chạy dọc phía trong ổ mắt và đi vào lỗ sàng trước bằng cách chạy dưới cơ chéo trên và nằm trên cơ thẳng trong, thoát ra khỏi ổ mắt qua lỗ sàng trước, lỗ này nằm trên rãnh sàn trán, được hợp bởi mảnh ổ mắt xương trán (trần ổ mắt) và mảnh ổ mắt xương sàng (thành trong ổ mắt). Ở trên rãnh này, động mạch sàng trước cách mào lệ phía trước khoảng 20 – 25 mm và cách động mạch sàng sau khoảng 12 – 14 mm23,24. Đoạn chạy trong ổ mắt của động mạch sàng trước cung cấp máu cho cơ chéo trên và cơ thẳng trong. Đoạn đi trong hốc mũi của động mạch sàng trước đi sát ngay dưới nền sọ hay trần sàng, đi trong khối sàng hướng từ sau ngoài vào trước trong.
Thường động mạch sẽ nằm trong ống động mạch sàng trước, nhưng ống này có thể khiếm khuyết một phần khoảng 20% hoặc không hiện diện25. Hầu hết động mạch sàng trước đi kèm với tĩnh mạch và thần kinh cùng tên, một số trường hợp hiếm gặp chỉ thấy có động mạch sàng trước mà không có hai thành phần. 12 kể trên đi chung. Cũng có lúc động mạch sàng trước không hiện diện.
Lúc đó cấp máu cho vùng mũi xoang sẽ do động mạch sàng sau đảm nhận26. Đoạn đi trong ống động mạch sàng trước cho những nhánh cung cấp máu cho tế bào sàng trước, hố sọ trước và thông nối với động mạch sàng trước bên đối diện. Ở hố sọ trước, động mạch sàng trước cho nhánh màng não chạy vào khe khướu và cho các nhánh xuống tưới máu 1/3 trước vách mũi10,27. Đoạn đi trong hố khứu giác của động mạch sàng trước chạy hướng ra trước, đi trong một rãnh ở trong mảnh bên của mảnh sàng được gọi là rãnh sàng trước.
Sau đó chui trở lại vào hốc mũi qua một lỗ nhỏ ngay cạnh bên mào gà xương sàng2,28. Lỗ động mạch sàng trước trên phim CT Scan được xác định nhờ gờ chữ V (“Nipple sign” hoặc dấu “Pyramidal”) ở thành trong ổ mắt, nằm bên dưới cơ chéo trên và bên trên cơ thẳng trong10,29. Động mạch sàng trước thường nằm trong một ống xương mỏng, nhưng trong 20% trường hợp không tồn tại ống xương mà treo lơ lửng dưới trần xoang sàng 1-3 mm trên một vách xương mỏng7,25,30. Về thể vị trí của động mạch sàng trước thì thường được các tác giả ghi nhận có 6 thể: - Thể 1: Trước mảnh nền bóng sàng.
- Thể 2: Ngay mảnh nền bóng sàng. - Thể 3: Giữa mảnh nền bóng sàng và mảnh nền cuốn mũi giữa. - Thể 4: Ngay mảnh nền cuốn mũi giữa. - Thể 5: Sau mảnh nền cuốn mũi giữa.
- Thể 6: Ở ngách trên bóng sàng. Đa số vị trí của động mạch sàng trước thuộc vùng các tế bào sàng trước, chủ yếu nằm giữa mảnh nền thứ 2 và thứ 3 (giữa mảnh nền bóng sàng và mảnh nền cuốn giữa), chiếm 79.2% trường hợp2. Khi tìm mối liên hệ với các tế bào. 13 ngách trán, nhận thấy rằng 68,9% trường hợp động mạch sàng trước thường nằm ở thành sau của tế bào trên bóng hay tế bào bóng trán31.
Khi bóng sàng không tiếp xúc với trần sàng sẽ hình thành ngách trên bóng, được giới hạn: trên là trần sàng, dưới là bóng sàng, ngoài là xương giấy, sau là mảnh nền cuốn giữa, phía trước thông trực tiếp với ngách trán. Khi có hiện diện của ngách trên bóng, đa số động mạch sàng trước sẽ nằm ở ngách này. Tương quan giữa động mạch sàng trước và trần sàng có thể phân thành 3 dạng: đi dưới trần sàng (dạng treo), nằm sát trần sàng (dạng gờ) hoặc ở trong trần sàng (dạng phẳng). Trong đó dạng đi dưới trần sàng làm tăng nguy cơ tổn thương động mạch sàng trước trong phẫu thuật nội soi sàn sọ trước, nạo các tế bào sàng nằm sát trần sàng hay khi loại bỏ các tế bào ngách trán trong mở xoang trán nếu phẫu thuật viên không nhận biết được, dẫn đến xảy ra các biến chứng nặng nề không đáng có.
Một sự khác biệt lớn về tỉ lệ các dạng vị trí của động mạch sàng trước ở trần sàng được ghi nhận giữa các nghiên cứu có cách thức và dân số nghiên cứu khác nhau2.6 Ba dạng động mạch sàng trước ở trần sàng: a) Dạng phẳng, b) Dạng lồi, c) Dạng treo2 Ở trường hợp động mạch sàng trước đi dưới trần sàng sẽ có một vách xương mỏng treo nó vào trần sàng, vách xương này có thể tạo góc nhọn hoặc vuông góc hoặc góc tù với trần sàng. Theo tác giả Takeda và cộng sự, vách xương treo động mạch sàng trước vào trần sàng đa số tạo nên góc nhọn hướng ra trước, chiếm 68,9% hoặc vuông góc với trần sàng chiếm 30,5% và chỉ có một bên duy nhất vách xương treo động mạch sàng trước vào trần sàng tạo góc tù hướng ra sau. Nhóm tác giả cũng nhận thấy khoảng cách giữa động mạch sàng trước và trần sàng lớn hơn có ý nghĩa ở nhóm vách xương động mạch sàng trước treo vào trần sàng tạo góc nhọn, góc tù so với nhóm vuông góc32.2 Giải phẫu động mạch sàng sau Động mạch sàng sau (ĐMSS) thường nhỏ hơn động mạch sàng trước, đường kính trung bình động mạch sàng sau bên phải là 0,66 ± 0,21 mm, bên phải là 0,63 ± 0,19 mm so với động mạch sàng trước bên phải là 0,92 ± 0,2 mm, bên trái là 0,88 ± 0,15 mm theo nghiên cứu của Erdogmus và Govsa (2006)20,33.