CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. GIẢI PHẪU HỌC XOANG BƯỚM Xoang bướm được mô tả lần đầu tiên bởi Giacomo Berengario da Carpo da Carpi ở thế kỷ XVI (1521) nhưng đến nửa sau thế kỷ XIX (1862), xoang bướm mới được công nhận là một phần của phức hợp các xoang cạnh mũi [7]. Phôi thai học Sự phát triển của mũi xoang bắt đầu rất sớm trong chuỗi phát triển của phôi thai. Mũi xoang được hình thành do sự biệt hóa của các cung mang, dẫn đến đặc điểm phức tạp của giải phẫu xoang [41].
Phần lớn các xoang cạnh mũi được hình thành từ vùng sàng, sự thông khí các tế bào sàng vào các xương thành bên mũi: xương hàm trên, xương trán, tạo thành các xoang cùng tên. Sự xâm lấn của niêm mạc mũi ra sau vào xương bướm tạo thành các khoang dạng túi được xem là sự hình thành xoang bướm. Vì thế, tùy mức độ khí hóa xương bướm mà tạo ra hình dạng và kích thước khác nhau của xoang bướm. Trong thời kỳ phôi thai, xoang bướm bắt đầu hiện diện rất sớm vào tuần thứ mười bảy [2].
Ngay sau khi sinh, xoang bướm có kích thước nhỏ nằm ở chỗ khuyết của ngách sàng bướm. Sau năm tuổi, xoang bướm phát triển vào thân xương bướm, hay còn gọi khí hóa, đến bảy tuổi xoang đã lan tới đến hố yên và sau mười ba tuổi xoang bướm thông bào ra phía sau hố yên. Sự phát triển của xoang tiếp tục mở rộng thêm trong quá trình trưởng thành và thông thường đạt kích thước tối đa, hoàn tất vào lúc mười tám tuổi [30],[49]. Xoang bướm nằm sâu trong khối xương sọ mặt, xung quanh được bao bọc bởi các cấu trúc quan trọng, nên tùy theo độ khí hóa xương bướm sẽ tạo ra nhiều biến thể của xoang bướm, đồng thời sẽ tạo nên mối liên hệ với các cấu trúc quan trọng lân cận như động mạch cảnh trong lồi với các mức độ khác.
5 nhau vào lòng xoang bướm, đính hoặc không đính vào vách liên xoang, có hay không có hở xương.1 Sự phát triển của xoang bướm theo tuổi “Nguồn: Clemente, M. Giải phẫu học 1. Vị trí xoang bướm Xoang bướm nằm trong thân xương bướm, có hai xoang không đều do sự lệch so với đường giữa của vách liên xoang [2]. Vách này còn có thể gắn vào lồi động mạch cảnh trong hoặc ống thần kinh thị giác.
Mức độ thông bào của xoang bướm thay đổi đáng kể, có loại nhỏ, có loại trung bình và loại lớn. Loại thông bào nhỏ như kén hơi nằm trong mô xương xốp của thân xương bướm ở trước hố yên. Loại trung bình, thông bào chiếm nửa trước thân xương bướm. Loại lớn, thông bào có thể lan ra phía trên - ngoài đến cánh nhỏ xương bướm và phần trước của mấu yên, phía ngoài đến cánh lớn xương bướm, phía dưới đến mấu chân bướm, và ở phía trước dưới vào phần sau vách ngăn mũi.
6 Do sự khí hóa từ từ trong quá trình phôi thai và phát triển sau sinh, xoang bướm chủ yếu nằm trong xương bướm với các mức độ thông bào khác nhau, cũng như có thể liên quan với các thành phần của sàn sọ.2 Vị trí của xoang bướm (dấu *) “Nguồn: William E. Giới hạn của xoang bướm Hình dạng của xoang bướm là hình khối, được tạo thành bởi 6 thành: thành trước, thành sau, thành trên, thành dưới và hai thành bên, các thành này đều liên quan đến các mốc giải phẫu mũi xoang và sàn sọ cũng như các cấu trúc quan trọng trong phẫu thuật [1]. Cụ thể là: - Thành trước (thành mũi) là thành tiếp cận với nội soi và phẫu thuật nội soi, phần rãnh giữa phía trước tiếp xúc với vách ngăn mũi. Thành trước cũng tạo nên phần sau của vòm họng một hàng lang dài 5-6cm.
Độ dầy thành này khoảng 0,1 đến 1,5 mm. Bhatt, nơi mỏng nhất là gần lỗ thông xoang bướm, thành phần hiện diện ở thành này [3]. Thành trước có mỏ bướm tiếp khớp với mảnh đứng xương sàng của vách ngăn mũi. Thành này có liên quan đến xoang sàng sau, đặc biệt trong một số trường hợp có tế bào Onodi là tế bào.
7 sàng sau cùng phát triển về hướng trên ngoài của xoang bướm. Trong quá trình phẫu thuật có thể nhầm tế bào Onodi với xoang bướm, do vậy cần phải đánh giá trước mổ qua chụp CLVT để tránh biến chứng làm tổn thương dây thần kinh thị giác, động mạch cảnh trong cũng như sàn sọ [53].3 Thành trước xoang bướm “Nguồn: Rhoton A. - Thành trên: tương ứng tầng trước và giữa của đáy sọ. Thành trên liên quan đến tuyến yên và vùng dưới đồi thị, phía trước tuyến yên thì có giao thoa thị [2].4 Thành trên xoang bướm “Nguồn: Rhoton A., 2012 [40]” - Thành dưới (trần vòm họng): tại thành này cần chú ý đến thần kinh Vidian trong ống chân bướm.
Dây thần kinh Vidian ở trong ống Vidian chạy dọc theo sàn xoang bướm. Ống Vidian có thể nằm trong thành xương bướm hoặc lồi vào đáy xoang bướm. Một số trường hợp dây thần kinh Vidian không có vỏ xương, lộ trần trong sàn xoang bướm. Nghiên cứu của Unal [50] có 35,7 % ống Vidian lồi vào sàn xoang, trong đó 7,1% không có vỏ xương.
Mặt thành này nhìn xuống trực tiếp thanh quản và miệng thực quản [2].5 Xoang bướm và các cấu trúc liên quan “Nguồn: Singh A. Đặc điểm xoang bướm a). Thông khí xoang bướm: Mức độ thông bào của xoang bướm không những thay đổi giữa những cá nhân khác nhau mà còn giữa xoang bướm hai bên. Thông bào có thể chia thành ba loại [40]: - Thông bào dạng kén hay thiểu sản xoang bướm (concha): có thông bào như kén hơi trong mô xốp của xương bướm ở trước hố yên, cách xa yên bướm.
- Thông bào dạng trước yên bướm (presella): chiếm nửa trước thân xương bướm và đến sát yên bướm. - Thông bào dạng yên bướm và sau yên bướm (sella, postsella): thông bào vượt qua mặt phẳng giới hạn trước của yên bướm, tiếp tục đến phía sau yên bướm, lan ra sau phía cầu não, khi đó yên bướm tạo thành thành trên của xoang [30]. Trước yên C. Thiểu sản Hình 1.6 Các dạng thông khí xoang bướm “Nguồn: Robert T., 2016 [43]” Ngoài ra, còn có những trường hợp đặc biệt, thông khí của xoang bướm không chỉ giới hạn ở thân xương bướm mà có thể mở rộng ra phía sau đến cả mảnh nền xương chẩm hướng về lỗ lớn, ra phía trước ngoài đến lỗ rách.
Ở phía trước, xoang bướm thông khí với một phần vách ngăn mũi, và phía trước ngoài thông khí đến mỏm chân bướm [30]. Tuy nhiên, một số nghiên cứu còn ghi nhận được có trường hợp hiếm là xoang bướm bất sản [12]. Vì sự phát triển xoang bướm khác nhau giữa các cá nhân, đặc biệt khi mức độ khí hóa xảy ra quá mạnh, lúc này khối xương bướm sẽ bị bào mỏng tối đa làm cho các cấu trúc quan trọng ở lân cận xoang có xu hướng lồi vào lòng xoang với các mức độ khác nhau, thậm chí có khi nằm lọt hẳn vào lòng xoang. Một trong những cấu trúc lân cận đặc biệt quan trọng và ảnh hưởng lớn đến phẫu thuật vùng xoang bướm đó là động mạch cảnh trong.
Tùy theo mức độ thông khí của xoang bướm mà động mạch cảnh trong lồi vào lòng xoang nhiều mức độ khác nhau hay có thể nằm hẳn trong lòng xoang.7 Hình ảnh xoang bướm thiểu sản “Nguồn: Famurewa O. Vách liên xoang bướm: Xoang bướm gồm hai xoang phải và trái, được ngăn cách nhau bởi vách liên xoang bướm. Hình thái hay gặp nhất là một vách ngăn lớn lệch về một phía được xem là vách liên xoang chính. Vị trí của vách liên xoang bướm không cố định, có thể thay đổi nhiều vị trí khác nhau, không nhất định phải nằm chính giữa và đi thẳng từ trước ra sau, nó có thể lệch một bên, chia xoang bướm thành hai phần không bằng nhau.
Số lượng vách liên xoang bướm cũng thay đổi, có thể có hơn một vách liên xoang, đi dọc theo vách liên xoang chính đi từ trước ra sau. Thậm chí có trường hợp xoang bướm không có vách liên xoang [4],[27], hoặc chỉ có một vách liên xoang không hoàn toàn. Theo Rhoton, 68% xoang bướm có 1 vách ngăn [40], còn nghiên cứu của Singh cho thấy 71,6% xoang bướm có 1 vách ngăn, 10,8% có thêm 1 vách ngăn phụ, 8,7% có nhiều vách ngăn và 10,8% xoang bướm không có vách ngăn [47]. Loại 1 vách ngăn B.
Loại 2 vách ngăn C. Loại nhiều vách ngăn Hình 1.8 Các hình thái vách ngăn xoang bướm “Nguồn: Rhoton A., 2012 [40]” Trong trường hợp, vách liên xoang bướm đi vẹo ra ngoài và lên trên từ trước ra sau thì có thể đính vào lồi xương của động mạch cảnh trong.9 Vách liên xoang bướm chính và vách liên xoang bướm phụ lệch trái trên mặt phẳng cắt ngang đính vào động mạch cảnh trong (CA). Lỗ thông xoang bướm: Thường mỗi bên xoang bướm có 1 lỗ thông, một số ít trường hợp có thể có 2 – 3 lỗ thông, hầu hết nằm ở 1/2 – 1/4 trên thành trước xoang bướm, và gần vị trí vách ngăn hơn cuốn mũi trên [30],[49]. Lỗ thông xoang bướm là nơi dẫn lưu của xoang bướm.
Theo Nguyễn Hữu Dũng, 100% các trường hợp lỗ thông xoang nằm ở ngách sàng bướm, cách gai mũi trước trung bình 65 mm, cách tiểu trụ trung bình 75 mm [3].10 Lỗ thông xoang bướm qua nội soi “Nguồn: Simmen D. Theo Kim Hyun – Ung và cộng sự, khoảng cách từ bờ dưới lỗ thông xoang bướm đến gai mũi trước là 56,5 ± 3,2 mm và đến cửa mũi trước là 62,7 ± 9,0 mm, hợp với sàn mũi một góc 35,9 ± 3,8 độ [37].11 Khoảng cách giữa lỗ thông xoang bướm và tiểu trụ “Nguồn: Kim Hyun‐Ung, 2001 [37]” Theo Sethi, lỗ thông xoang bướm có nhiều hình dạng khác nhau, có thể có dạng đầu kim 13% trường hợp, hình elip 40% trường hợp, có thể hình tròn 47% trường hợp [45]. Có thể gặp hai đến ba lỗ thông ở một bên xoang bướm hai bên ngăn cách bởi một vách không hoàn toàn và chỉ có một lỗ dẫn lưu chung ở một bên. Kích thước của lỗ thông thay đổi từ 1 – 5 mm, trung bình 2 – 3 mm.
Theo Sethi, 13% lỗ thông xoang bướm lớn hơn 4mm, 20% từ 2,7 – 4 mm và 57% nhỏ hơn 2,7 mm [45]. GIẢI PHẪU ĐỘNG MẠCH CẢNH TRONG ĐOẠN LIÊN QUAN XOANG BƯỚM Động mạch cảnh chung tách ra thành hai động mạch: động mạch cảnh trong và động mạch cảnh ngoài ở ngang mức bờ trên sụn giáp. Đoạn cuối động mạch cảnh chung ở chỗ chia đôi và đoạn đầu động mạch cảnh trong phình ra gọi là hành cảnh.