Đặt vấn đề Vốn được mệnh danh là “Lá phổi xanh” của trái đất, rừng có vai trò rất quan trọng trong việc duy trì cân bằng sinh thái và sự đa dạng sinh học trên hành tinh của chúng ta. Rừng không những là cơ sở phát triển kinh tế -xã hội mà còn giữ chức năng sinh thái cực kì quan trọng là điều hoà khí hậu, bảo vệ môi trường sống, hạn chế được lũ lụt , thiên tai, bảo vệ nguồn nước và ngăn chặn được xói mòn, rửa trôi đất…Có thể nói rừng là một dạng tài nguyên thiên nhiên đặc biệt vô cùng quý giá và những giá trị mà rừng mang lại cho con người là rất lớn. Theo số liệu thống kê năm 1943 diện tích rừng nước ta là 14,3 triệu ha (Tương đương với độ che phủ là 43%), năm 1999 diện tích rừng còn lại là 10,9 triệu ha (Tương đương với độ che phủ là 33,2%), năm 2009 diện tích rừng nước ta là 13. Năm 2011 diện tích rừng trong toàn quốc là 13.
Theo công bố tại quyết định số 1739/QĐ/BNN-TCLN ngày 31 tháng 7 năm 2013, tính đến ngày 31/12/2012 diện tích rừng toàn quốc là 13,862,043 triệu ha (độ che phủ rừng là 39,9 %). Nguyên nhân làm suy giảm tài nguyên rừng có rất nhiều song chủ yếu là do sự can thiệp vô ý thức của con người như chặt phá rừng bừa bãi, khai thác rừng trái phép và quá mức, tập quán đốt nương làm rẫy của các dân tộc ít người sống trong và gần rừng, nạn săn bắn và thu hái động thực vật bừa bãi, không có biện pháp quản lý kinh doanh rừng có hiệu quả. Bên cạnh đó còn do công tác quản lý bảo vệ rừng còn nhiều bất cập, nạn cháy rừng vẫn thường xuyên xảy ra, sâu bệnh hại thường xuyên gây dịch. Trước những bất cập đó, Đảng và nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách nhằm phục hồi và phát triển tài nguyên rừng như: Chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng, dự án 327, dự án PAM… Hay gần đây nhất là chiến lược phát triển Lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006 - 2020 với mục tiêu quan trọng là thiết lập, quản lý, bảo vệ, phát triển và sử dụng bền vững 2 16,24 triệu ha đất được quy hoạch cho Lâm nghiệp, nâng cao tỷ lệ đất có rừng lên 42,6% năm 2010 và 47% năm 2020 (Bộ NN và PTNT, 2005)[3].
Để đáp ứng được mục tiêu trên trong những năm qua đã có rất nhiều chương trình trồng rừng được triển khai như dự án:661, 135, 327… và có rất nhiều loài cây được trồng như: Keo, Bạch đàn, Mỡ, Lát, Xoan…được gây trồng trên các tỉnh nước ta, trong đó 2 loài cây được trồng chủ yếu là Keo và Bạch đàn. Keo (Acasia spp): Là loài cây ưa sáng mọc nhanh, sinh trưởng phát triển mạnh, trồng phủ xanh đất trống đồi núi trọc, có tác dụng cải tạo đất, gỗ thường dùng làm nguyên liệu giấy, ván dăm. Keo là loài cây có nhiều đặc tính tốt, tuy vậy loài cây này rất dễ nhiễm sâu bệnh hại, trong đó có họ mối đất (Termitidae). Với những đặc tính trên, Keo và Bạch đàn được trồng nhiều ở các tỉnh miền núi phía Bắc như: Thái Nguyên, Bắc Kạn, Tuyên Quang, Phú Thọ… Keo và Bạch đàn là những loài cây có nhiều đặc tính tốt, tuy vậy Keo và Bạch đàn là những loài cây rất dễ bị nhiễm sâu bệnh hại, trong đó có họ mối đất.
Mối (Isoptera) thuộc nhóm côn trùng sống có tính chất xã hội, có sự phân hóa cao về hình thái và chức năng. Khác với nhiều loại côn trùng đơn sinh, mỗi tổ mối là một "đơn vị sống" hoặc được coi là một "xã hội" riêng biệt. Trong mỗi tổ mối, tuỳ theo từng loài, có từ vài trăm con đến vài chục triệu con. Với đặc tính làm tổ và hoạt động tinh vi cùng với khả năng phân giải các sản phẩm có nguồn gốc từ xenluloza, mối đang được xem là một trong những côn trùng gây thiệt hại lớn nhất.
Thức ăn của chúng là xenlulo do đó chúng là côn trùng phá hoại gỗ rất mạnh, đối với cây rừng có ảnh hưởng rất lớn. Theo thống kê chưa đầy đủ của Mỹ hàng năm thiệt hại của mối gây ra vào khoảng 150 triệu USD (Đặng Kim Tuyến và cs, 2008) [15]. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế xã hội, các loài mối gây hại ngày càng phát triển mạnh mẽ, phổ rộng khắp mọi nơi, gây thiệt hại to lớn đến nền kinh tế quốc dân của tất cả các quốc gia trên thế giới. Vì vậy, cần phải phát triển mở rộng nhiều nghiên cứu mới về mối.
3 Vấn đề cấp thiết đặt ra là phải tìm ra được những phương pháp phòng trừ có hiệu quả mà ít gây hại đến môi trường. Tuy nhiên, việc nghiên cứu các biện pháp phòng trừ Mối hại Keo và Bạch đàn thực tế vẫn chưa được trú trọng và quan tâm. Xuất phát từ thực tế trên nay tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Khảo nghiệm một số biện pháp kỹ thuật phòng trừ Mối (Isoptera) hại rừng trồng Keo xen Bạch đàn tại xã Phấn Mễ, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên”. Mục đích nghiên cứu - Đánh giá được mức độ gây hại của mối ở rừng trồng Keo và Bạch đàn tại khu vực xã Phấn Mễ, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.
- Đề xuất một số biện pháp phòng trừ tổng hợp về mối hại cây Keo và Bạch đàn ở rừng trồng giúp cây trồng sinh trưởng, phát triển tốt nâng cao năng suất chất lượng rừng trồng, đáp ứng được mục tiêu kinh doanh rừng và giảm ô nhiễm môi trường sinh thái. Mục tiêu nghiên cứu - Đánh giá được mức độ mối gây hại ở rừng Keo và Bạch đàn tại khu vực nghiên cứu. - Đánh giá được hiệu quả một số biện pháp phòng trừ mối, từ đó đề xuất biện pháp phòng trừ phù hợp giúp cây trồng sinh trưởng và phát triển tốt hơn góp phần nâng cao năng suất và chất lượng rừng trồng tại địa bàn nghiên cứu. Ý nghĩa nghiên cứu * Ý nghĩa trong học tập và trong nghiên cứu - Đề tài thực hiện giúp cho sinh viên củng cố, hệ thống lại kiến thức đã học và vận dụng vào thực tiễn sản xuất.
- Làm quen với một số phương pháp được sử dụng trong nghiên cứu một đề tài cụ thể. - Nắm vững được các phương pháp điều tra mối hại ở cây rừng trồng. - Học tập, hiểu biết thêm về kinh nghiệm, kỹ thuật được áp dụng trong thực tiễn tại địa bàn nghiên cứu. - Rèn luyện kỹ năng làm việc, kỹ năng tiếp xúc với người dân và kỹ năng viết đề tài tốt nghiệp cho sinh viên thực tập.
4 * Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất - Kết quả nghiên cứu của đề tài được thông qua phỏng vấn thu thập thông tin từ người dân và quá trình điều tra tại địa bàn nghiên cứu nên sẽ là cơ sở khách quan nhất để nắm rõ tình hình gây hại và đề xuất giải pháp phòng trừ tác hại của mối đối với rừng trồng cây Keo và Bạch đàn một cách có hiệu quả. - Đề tài này cũng chỉ ra một số biện pháp phòng trừ mối có hiệu quả, giúp người dân địa phương ứng dụng vào phòng trừ mối hại rừng trồng tại địa phương. 5 Phần 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. Tổng quan tài liệu 2.
Cơ sở lí luận Trong sản xuất nông lâm nghiệp, chúng ta thường gặp rất nhiều loài gây hại cho cây trồng làm ảnh hưởng không nhỏ đến năng xuất, chất lượng cây trồng.Trong đó, côn trùng là loài gây hại không nhỏ đến sản xuất nông lâm nghiệp,chúng rất đa dạng và có phương thức phá hoại khác nhau. Sinh thái học côn trùng là môn khoa học nghiên cứu đặc tính sinh học, sinh thái của các loài côn trùng nhằm nắm được đặc điểm hình thái và tập tính sống của mỗi loài côn trùng (Phạm Bình Quyền, 2006)[12]. Côn trùng là lớp phong phú nhất trong thế giới động vật, hơn 1,2 triệu loài động vật mà con người biết đến thì côn trùng đã có đến hơn 1 triệu loài và chiếm 1/2 tổng số các loài sinh vật cư ngụ trên hành tinh. Côn trùng phân bố khắp nơi trên trái đất, có thể tìm thấy côn trùng trong không khí ở độ cao 15km, trong những tảng băng lạnh ở vùng Bắc cực, ở trong nước, trong đất, trong các rễ cây, thân cây, lá cây.
Nhắc đến côn trùng chúng ta thường nghĩ đó là loài có hại, thực ra côn trùng có hại chỉ chiếm không quá 10% tổng số loài và nếu chỉ kể các loài thường gây các trận dịch có ý nghĩa kinh tế thì chỉ chiếm khoảng 1% nhưng những tổn thất gây ra vô cùng lớn (Trần Công Loanh, Nguyễn Thế Nhã, 1999)[8]. Việc nghiên cứu những đặc điểm hình thái khác nhau của côn trùng là cơ sở để nhận biết, phân loại côn trùng giúp cho công tác điều tra chính xác và đề xuất biện pháp phòng trừ chúng một cách hiệu quả (Trần Công Loanh và Cs,1997) [7]. Tuỳ theo điều kiện sống mà cơ thể côn trùng có sự thay đổi để thích nghi vì vậy lớp côn trùng được phân ra làm nhiều bộ, họ, chi, loài, loài chính, loài phụ. Việc phân loại côn trùng còn giúp chúng ta phân biệt được các loài côn trùng có lợi và có hại từ đó đưa ra được phương hướng phòng trừ côn trùng có hại và lợi dụng côn trùng có lợi (Đặng Kim Tuyến và Cs,2008)[15].
6 Mối thuộc bộ cánh bằng (Isoptera), là nhóm côn trùng sống có tính chất xã hội. Mối ăn hại tất cả các sản phẩm chứa xenlulo, trong rừng mối phá hại cả cây sống lẫn cây chết, thiệt hại hàng năm do mối gây ra là rất lớn, đặc biệt là ở rừng trồng. Trên cơ sở đó ứng dụng vào thực tiễn sản xuất, trồng rừng phát huy được những lợi ích và hạn chế được những tác hại của các loài côn trùng, đồng thời để nghiên cứu đề xuất các biện pháp phòng trừ hợp lý đối với từng loại côn trùng có hại như: Biện pháp sinh học, biện pháp cơ giới vật lý, biện pháp phòng trừ tổng hợp. nhằm ngăn chặn những thiệt hại do côn trùng gây ra (Phạm Bình Quyền, 2006)[12].
Biện pháp lâm sinh: Đây là phương pháp thông qua hàng loạt các biện pháp kỹ thuật canh tác hợp lý trong các khâu sản xuất để tạo ra những diện tích cây trồng khỏe mạnh, có sức kháng sâu bệnh cao, thúc đẩy quá trình cân bằng sinh thái, hạn chế sự phát sinh, phát triển của sâu hại. Biện pháp lâm sinh bao gồm: Chọn giống, xử lý giống, xử lý đất, chăm sóc… Biện pháp cơ giới vật lý: Không gây hại cho môi trường nhưng lại yêu cầu công lao động lớn và hiệu quả không cao, hiệu quả lao động phụ thuộc vào việc tổ chức lao động.