Luận văn: Văn hóa dân gian Hàn Quốc qua lăng kính truyện cổ tích

Tài liệu nghiên cứu Luận văn văn hóa dân gian korea qua truyện cổ tích, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên sâu về .

Trường đại học

Đại học Lạc Hồng

Chuyên ngành

Đông Phương học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

báo cáo nghiên cứu khoa học

2013

86
9
2

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

0.1. Lý do chọn đề tài

0.2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

0.3. Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu

0.3.1. Mục tiêu nghiên cứu

0.3.2. Phạm vi nghiên cứu

0.4. Phương pháp nghiên cứu

0.5. Những đóng góp của đề tài

1. CHƯƠNG 1: TRUYỆN CỔ TÍCH VÀ ĐẶC ĐIỂM TRUYỆN CỔ TÍCH KOREA

1.1. Truyện cổ tích- đối tượng nghiên cứu khoa học hấp dẫn

1.2. Đặc điểm truyện cổ tích Korea

1.3. Về nghệ thuật truyện cổ tích Korea

2. CHƯƠNG 2: VĂN HÓA DÂN GIAN KOREA

2.1. Định nghĩa “Văn hóa” và “Văn hóa dân gian”

2.2. Đôi nét về văn hóa dân gian Korea

3. CHƯƠNG 3: TRUYỆN CỔ TÍCH KOREA – BỨC TRANH VỀ VĂN HÓA DÂN GIAN

3.1. Tín ngưỡng-tôn giáo

3.1.1. Tín ngưỡng “vạn vật hữu linh”

3.1.2. Tín ngưỡng thờ ông Trời

3.1.3. Tín ngưỡng thờ thần Núi

3.1.4. Ảnh hưởng của Phật giáo, Nho giáo và Đạo giáo đến đời sống tâm linh của người Hàn

3.2. Phong tục-tập quán

3.2.1. Phong tục hôn nhân

3.2.2. Phong tục tang ma

3.2.3. Phong tục thờ cúng tổ tiên

3.2.4. Phong tục xem phong thủy

3.2.5. Phong tục ăn uống

3.3. Lễ hội dân gian - Trò chơi dân gian

3.3.1. Lễ hội “Cúng Phật”

3.3.2. Lễ hội “Múa mặt nạ”

3.3.3. Lễ hội “Nhân sâm Kumsan”

3.4. Những câu chuyện về động vật

4. CHƯƠNG 4: TÍNH NHÂN VĂN TRONG TRUYỆN CỔ TÍCH CỦA DÂN TỘC HÀN

4.1. Quan niệm về „tính nhân văn”

4.2. Tính nhân văn trong truyện cổ tích Hàn Quốc

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Văn hóa dân gian Hàn Quốc

Văn hóa dân gian Hàn Quốc là một phần không thể thiếu trong di sản văn hóa của dân tộc này. Nó bao gồm các yếu tố như tín ngưỡng, phong tục, lễ hội, và truyện cổ tích. Truyện cổ tích Hàn Quốc không chỉ là những câu chuyện giải trí mà còn là phương tiện để truyền tải các giá trị văn hóa và đạo đức. Qua các truyện cổ tích, người ta có thể thấy được sự ảnh hưởng của văn hóa truyền thống Hàn Quốcvăn hóa cổ đại Hàn Quốc trong đời sống tinh thần của người dân. Những câu chuyện này phản ánh cách nhìn nhận của người Hàn về thế giới tự nhiên và xã hội, đồng thời thể hiện những ước mơ và khát vọng của họ.

1.1 Tín ngưỡng và tôn giáo

Tín ngưỡng Hàn Quốc là một phần quan trọng trong văn hóa dân gian Hàn Quốc. Các truyện cổ tích thường đề cập đến tín ngưỡng vạn vật hữu linh, tín ngưỡng thờ ông Trời, và tín ngưỡng thờ thần Núi. Những tín ngưỡng này phản ánh mối quan hệ giữa con người và tự nhiên, đồng thời thể hiện sự tôn kính của người Hàn đối với các thế lực siêu nhiên. Ngoài ra, Phật giáo, Nho giáo, và Đạo giáo cũng có ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tâm linh của người Hàn, được thể hiện qua các câu chuyện cổ tích như Shim Ch’ong và Lòng hiếu thảo của Hổ.

1.2 Phong tục và tập quán

Phong tục Hàn Quốc được phản ánh rõ nét trong các truyện cổ tích. Những phong tục như hôn nhân, tang ma, thờ cúng tổ tiên, và xem phong thủy đều được đề cập trong các câu chuyện này. Ví dụ, truyện Lòng hiếu thảo của Hổ phản ánh phong tục để tang người chết, trong khi truyện Tài sản kế thừa của ba anh em trai nói về phong tục cúng giỗ. Những phong tục này không chỉ là một phần của văn hóa truyền thống Hàn Quốc mà còn thể hiện sự gắn kết gia đình và cộng đồng.

II. Truyện cổ tích Hàn Quốc

Truyện cổ tích Hàn Quốc là một thể loại văn học dân gian phong phú và đa dạng. Chúng không chỉ là những câu chuyện kể mà còn là phương tiện để truyền tải các giá trị văn hóa và đạo đức. Truyện cổ tích dân gian Hàn Quốc thường phản ánh cuộc sống của người dân trong xã hội phong kiến, với những xung đột giai cấp và ước mơ về một xã hội công bằng. Những câu chuyện này cũng thể hiện sự ảnh hưởng của văn hóa và lịch sử Hàn Quốc trong cách nhìn nhận và giải quyết các vấn đề xã hội.

2.1 Đặc điểm của truyện cổ tích Hàn Quốc

Truyện cổ tích Hàn Quốc có những đặc điểm riêng biệt, phản ánh văn hóa và truyền thống Hàn Quốc. Chúng thường kết thúc có hậu, với cái thiện chiến thắng cái ác. Những câu chuyện này cũng đề cao các giá trị như lòng hiếu thảo, sự khoan dung, và tình yêu thương gia đình. Ví dụ, truyện Shim Ch’ong ca ngợi lòng hiếu thảo của một cô gái sẵn sàng hy sinh bản thân để cứu cha, trong khi truyện Lòng hiếu thảo của Hổ thể hiện tình cảm sâu sắc giữa con người và động vật.

2.2 Tính nhân văn trong truyện cổ tích

Tính nhân văn là một yếu tố quan trọng trong truyện cổ tích Hàn Quốc. Những câu chuyện này không chỉ phản ánh cuộc sống hiện thực mà còn thể hiện những ước mơ và khát vọng của người dân. Chúng đề cao các giá trị đạo đức như lòng nhân ái, sự công bằng, và tình yêu thương. Ví dụ, truyện Cá chép mùa đông ca ngợi sự hiếu thảo của một chàng trai trong việc chăm sóc mẹ già, trong khi truyện Mối tình nàng Bạch Hổ thể hiện tình yêu và sự trung thành vượt qua mọi rào cản.

III. Văn hóa và nghệ thuật Hàn Quốc

Văn hóa và nghệ thuật Hàn Quốc được thể hiện rõ nét qua các truyện cổ tích. Những câu chuyện này không chỉ phản ánh đời sống vật chất mà còn thể hiện đời sống tinh thần của người dân. Truyện cổ tích và văn hóa Hàn Quốc có mối quan hệ mật thiết, với các yếu tố như tín ngưỡng, phong tục, và lễ hội được lồng ghép vào trong các câu chuyện. Những câu chuyện này cũng thể hiện sự sáng tạo và trí tưởng tượng phong phú của người dân Hàn Quốc.

3.1 Lễ hội và trò chơi dân gian

Lễ hội dân gian Hàn Quốc là một phần quan trọng trong văn hóa dân gian Hàn Quốc. Các truyện cổ tích thường đề cập đến các lễ hội như lễ hội Cúng Phật, lễ hội Múa mặt nạ, và lễ hội Nhân sâm Kumsan. Những lễ hội này không chỉ là dịp để người dân vui chơi mà còn là cơ hội để họ thể hiện sự tôn kính đối với các thế lực siêu nhiên và tưởng nhớ tổ tiên. Những trò chơi dân gian cũng được phản ánh trong các câu chuyện, thể hiện sự gắn kết cộng đồng và tinh thần đoàn kết.

3.2 Nghệ thuật trong truyện cổ tích

Nghệ thuật Hàn Quốc được thể hiện qua các truyện cổ tích với những hình ảnh và biểu tượng độc đáo. Những câu chuyện này thường sử dụng các yếu tố như cây cối, muông thú, và các hiện tượng tự nhiên để truyền tải thông điệp. Ví dụ, truyện Sự tích chiếc cầu vồng sử dụng hình ảnh cầu vồng để giải thích hiện tượng tự nhiên, trong khi truyện Sự tích cáo, khỉ, thỏ và ngựa sử dụng các con vật để phản ánh các đặc tính của con người. Những câu chuyện này không chỉ là tác phẩm nghệ thuật mà còn là phương tiện để giáo dục và truyền tải các giá trị văn hóa.

01/03/2025
Luận văn văn hóa dân gian korea qua truyện cổ tích

Trích đoạn nội dung tài liệu

chương I trong cuốn sách “Primitive culture”, đã viết rằng: “Văn hóa hay văn minh, được hiểu theo nghĩa rộng của dân tộc học, là một toàn bộ phức thể bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục và mọi khả năng và tập quán khác mà con người có được với tư cách một thành viên của xã hội”7. Ở định nghĩa này ta thấy văn hóa được hiểu theo nghĩa rộng, văn hóa là một phức thể nhiều mặt, văn hóa là một thành tựu do con người tạo nên và con người có được xét trong bối cảnh xã hội. Theo Từ điển “Oxford Dictionary of Philosophy” định nghĩa: “Văn hóa là lối sống của một dân tộc, bao gồm những thái độ, giá trị, tín ngưỡng, nghệ thuật khoa học, phương cách nhận thức, nếp nghĩ và hoạt động”8. Còn theo cách giải thích của Lại Cao Nguyện trong Từ điển Từ Hán Việt: “Văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra nhằm phục vụ nhu cầu của con người (như trình độ sản xuất khoa học, văn học- nghệ thuật, nếp sống, đạo đức, tập quán…”9 Tổng giám đốc UNESCO đã đưa ra định nghĩa về văn hóa như sau: “Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo trong quá khứ và hiện tài.

Qua các thế 6 Trần Ngọc Thêm, Cơ sở văn hóa Việt Nam, NXB Giáo dục, 1999, tr 10 7& 8 Nguyễn Thừa Hỷ, Văn hóa Việt Nam truyền thống-Một góc nhìn, NXB Thông tin và Truyền thông, 2011, tr 8 9 Lại Cao Nguyện, Từ điển Hán- Việt, NXB Khoa Học Xã hội, 2007, tr 524 14 kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống các giá trị, các truyền thống và các thị hiếu- những yếu tố xác định đặc tính riêng của từng dân tộc”10. Cũng theo tổ chức UNESCO của Liên Hợp Quốc, trong Hội nghị toàn thể khóa thứ 31 họp ngày 02/11/2001, trong Bản “Tuyên ngôn phổ quát về Đa dạng văn hóa”, trong đó có nêu lên định nghĩa chung về văn hóa như sau: “Văn hóa phải nên được nhìn nhận như một tập hợp những nét khác biệt về đời sống tinh thần, vật chất, trí tuệ và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm xã hội, nó bao gồm văn học nghệ thuật, thêm vào là lối sống, phong cách chung sống, hệ giá trị, truyền thống và tín ngưỡng”11. Về khái niệm văn hóa dân gian Thuật ngữ quốc tế “Folklore” - Văn hóa dân gian, được W J.Thom sử sụng đầu tiên vào năm 1846 để chỉ “phong tục, tập quán, nghi thức, mê tín, ca dao, tục ngữ…của người đời trước”12. Ở Việt Nam, thuật ngữ “Folklore” đã được sử dụng từ lâu và tùy theo mỗi thời kỳ được dịch ra tiếng Việt là “Văn học dân gian”, “Văn nghệ dân gian” và nay là “Văn hóa dân gian”.

Theo Giáo sư Tiến sĩ Ngô Đức Thịnh cho rằng: “Việc quan niệm rộng hẹp và chuyển sang tiếng Việt khác nhau như vậy là do sự thay đổi nhận thức của chúng ta về văn hóa dân gian và cũng do sự tiếp thu ảnh hưởng của các quan niệm Folklore từ các trường phái khác nhau trên thế giới”13. Và Giáo sư Tiến sĩ Ngô Đức Thịnh cũng cho rằng ngày nay, ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu triển khai công tác sưu tầm, nghiên cứu về văn hóa dân gian trên các lĩnh vực sau: Ngữ văn dân gian, Nghệ thuật dân gian, Tri thức dân gian, Tín ngưỡng, Phong tục và Lễ hội. 10 Chu Xuân Diên, Cơ sở văn hóa Việt Nam, NXB Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh, 2002, tr 10. 11 Universal Declaration on Cultural Diversity, UNESCO, 2001, dẫn theo Nguyễn Thừa Hỷ, Văn hóa Việt Nam truyền thống-Một góc nhìn, NXB Thông Tin và Truyền thông, 2011, tr 9 12 http://www.vn/nghien-cuu/van-hoa-viet-nam/vhvn-nhung-van-de-chung/678-ngo-duc-thinh- van-hoa-dan-gian-va-van-hoa-dan-toc.html 13 http://www.vn/nghien-cuu/van-hoa-viet-nam/vhvn-nhung-van-de-chung/678-ngo-duc-thinh- van-hoa-dan-gian-va-van-hoa-dan-toc.html 15 Ngữ văn dân gian bao gồm: Tự sự dân gian (thần thoại, cổ tích, truyền thuyết, truyện cười, ngụ ngôn, vè, sử thi, truyện thơ… Trữ tình dân gian (ca dao, dân ca); Thành ngữ, tục ngữ, câu đố dân gian Nghệ thuật dân gian bao gồm: Nghệ thuật tạo hình dân gian (kiến trúc dân gian, hội họa dân gian, trang trí dân gian…); nghệ thuật biểu diễn dân gian (âm nhạc dân gian, múa dân gian, sân khấu dân gian, trò diễn…) Tri thức dân gian bao gồm: Tri thức về môi trường tự nhiên (địa lý, thời tiết, khí hậu…); tri thức về con người (bản thân): y học dân gian và dưỡng sinh dân gian; tri thức ứng xử xã hội (ứng xử cá nhân và ứng xử cộng đồng); tri thức sản xuất (kỹ thuật và công cụ sản xuất) Tín ngưỡng, phong tục và lễ hội: Các lĩnh vực nghiên cứu trên của văn hóa dân gian nảy sinh, tồn tại và phát triển với tư cách là một chỉnh thể nguyên hợp, thể hiện tính chưa chia tách giữa các bộ phận (ngữ văn, nghệ thuật, tri thức, tín ngưỡng phong tục…), giữa hoạt động sáng tạo và hưởng thụ trong sinh hoạt văn hóa, giữa sáng tạo văn hóa nghệ thuật và đời sống lao động của nhân dân.

Để nghiên cứu văn hóa dân gian với tư cách là một chỉnh thể nguyên hợp chúng ta cần phải có một quy phạm nghiên cứu tổng hợp. Văn hóa dân gian là một thực thể sống, nảy sinh, tồn tại và phát triển gắn với sinh hoạt văn hóa cộng đồng của quần chúng lao động. Vì vậy, khi nhận thức, lý giải các hiện tượng văn hóa dân gian phải gắn liền với môi trường sinh hoạt văn hóa của nó, tức là các sinh hoạt văn hóa của cộng đồng, trong đó cộng đồng gia tộc, cộng đồng làng xã giữ vai trò quan trọng. Người ta thường nói văn hóa dân gian là “cội nguồn của văn hóa dân tộc” là „văn hóa gốc”, “văn hóa mẹ”.

Điều đó hàm nghĩa văn hóa dân gian gắn với lịch sử lâu đời của dân tộc, là nguồn sản sinh và tiếp tục nuôi dưỡng văn hóa dân tộc. Có con người là có văn hóa, có dân tộc là có văn hóa dân tộc. Văn hóa đó trước hết là 16 văn hóa dân gian, văn hóa của quần chúng nhân dân. Qua văn hóa dân gian, nhân dân lao động “tự biểu hiện mình, tự phản ánh cuộc sống của mình”.2 Đôi nét về văn hóa dân gian Korea Hàn Quốc là một trong những quốc gia của Đông Bắc Á nên Hàn Quốc cũng có những nét văn hóa dân gian đặc trưng của nền văn hóa phương Đông.

Trước đây Korea là một nước nông nghiệp nên điều kiện địa lý- tự nhiên như đất đai, núi non, sông suối, khí hậu thường xuyên tác động đến đời sống con người. Con người luôn phải quan hệ với tự nhiên, tác động vào tự nhiên và chinh phục tự nhiên. Cuộc sống cộng đồng, đặc biệt tổ chức làng là một sự cố kết đời này qua đời khác tạo thành truyền thống không chỉ cho quá khứ mà cả với hiện tại và tương lai. Nền văn hóa Nông nghiệp- Làng đã tạo nên một bản sắc, một phong tục tập quán của người bản xứ được thể hiện qua các lễ hội cổ truyền, từ việc đính ước, cưới xin, kiêng kỵ, ma chay đến các biểu tượng hóa thần linh mang ý nghĩa tín ngưỡng và tôn giáo.

Lễ hội cổ truyền trở thành một di sản văn hóa phong phú ở bán đảo Triều Tiên. Trải qua mấy nghìn năm thăng trầm của lịch sử, lễ hội vẫn tồn tại và trải rộng khắp mọi miền của đất nước và suốt cả bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông. Lễ hội truyền thống nhằm tái hiện cuộc sống nông nghiệp, tái hiện lịch sử đấu tranh xây dựng và bảo vệ chủ quyền đất nước, giữ vững bản sắc dân tộc và phong tục tập quán. Hầu hết các lễ hội được phản ánh trong các truyện cổ tích như truyện Cái chùy yêu quái, truyện Cục bướu biết hát, truyện Sự ngạc nhiên của nhà sư.

Người Đông Á chúng ta thường quan niệm rằng sự kết hợp hài hòa giữa âm và dương kiến tạo và làm biến đổi vạn vật trên thế gian. Âm là bóng râm, dương là ánh nắng. Âm dương còn có nghĩa là nữ và nam, quần thần và quân vương. Vạn vật trên thế gian đều mang trong mình vận khí âm dương, khi đối lập nhau, khi hài hòa, khi biến đổi.

Đối với các chữ số, số chẵn được gọi là âm, số lẻ là dương. Những ngày trùng hai lần số dương đều là những ngày quan trọng đối với các dân tộc có nền văn hóa nông nghiệp. Dù hiện nay, Hàn Quốc là một nước có nền công nghiệp phát triển mạnh và đã có những ảnh hưởng hiện đại hóa phương Tây trong đời sống văn hóa, song cho đến nay quốc gia này vẫn lưu giữ được nhiều nét đẹp Á Đông riêng có của 17 dân tộc Hàn. Một trong những nét đẹp văn hóa đặc sắc đó là văn hóa Tết.

Ngày mùng 1 tháng 1 âm lịch là ngày Tết Nguyên Đán. Văn hóa Tết âm lịch cổ truyền của người Hàn cũng như người Việt Nam, không khí tết đã tràn ngập từ những ngày cuối năm âm. Vào ngày 30 tết, các gia đình đều dọn vệ sinh sạch sẽ nhà cửa. Buổi tối trước giao thừa, họ thường tắm bằng nước nóng đêt tẩy trần.

Các thanh tre được đốt trong nhà để xua đuổi tà ma vì tục truyền do tiếng nổ của các thanh tre sẽ làm cho ma quỷ khiếp sợ bỏ chạy. Đêm giao thừa không ai ngủ cả, vì theo truyền thuyết nếu ngủ thì sáng hôm sau sẽ bị bạc trắng cả lông mi và đầu óc kém minh mẫn khi thức dậy. Vào ngày Tết mọi người mặc trang phục truyền thống Hanbok cùng cả nhà cử hành nghi lễ thờ cúng tổ tiên. Sau đó con cái bái lạy cha mẹ và cả nhà quây quần cùng nhau thụ hưởng những đồ ăn vừa cúng tổ tiên.

Truyện Bí mật về vẻ ngoài của cóc cho ta thấy phong tục của người Hàn vào dịp năm mới “vào mùa xuân con người thường làm bánh và đi leo núi, họ ăn bánh và ngắm phong cảnh” Trong một năm thì ngoài Tết Nguyên Đán là Tết có ngày lẻ tháng lẻ thì Tết Đoan Ngọ cũng nằm trong ngày lẻ tháng lẻ. Đó là mùng 5 tháng 5 âm lịch. Người Hàn Quốc gọi ngày Tết Đoan Ngọ là Surinal. “Suri” có nghĩa là “Thần”, là “cao”, tức là vị thần tối cao, ám chỉ Mặt Trời.

Vào ngày này, người Hàn tổ chức nhiều trò chơi dân gian và tập tục truyền thống nhằm cầu một năm mùa màng bội thu. Mỗi địa phương đều có những tập quán truyền thống đặc trưng của mình như: người dân tổ chức cúng tế lên đồng để cầu mong bình an và ấm no, còn các nô bộc thường ngày lào động cật lực thì nay được đeo mặt nạ nhảy múa ca hát tưng bừng được gọi là “Kịch mặt nạ của những người nô bộc”.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Khám phá văn hóa dân gian Hàn Quốc qua truyện cổ tích" mang đến cho độc giả cái nhìn sâu sắc về những giá trị văn hóa đặc sắc của Hàn Quốc thông qua các câu chuyện cổ tích. Tác phẩm không chỉ giúp người đọc hiểu rõ hơn về truyền thuyết, phong tục tập quán mà còn khám phá những bài học nhân văn ẩn chứa trong từng câu chuyện. Việc tìm hiểu văn hóa dân gian Hàn Quốc qua truyện cổ tích không chỉ mở rộng kiến thức mà còn giúp người đọc cảm nhận được sự phong phú và đa dạng của nền văn hóa này.

Nếu bạn muốn mở rộng thêm kiến thức về văn hóa và nghệ thuật, hãy tham khảo các tài liệu như Luận văn thạc sĩ cấm kỵ và đối phó với cấm kỵ nhìn từ góc độ văn hóa khảo sát qua thơ nôm truyền tụng của hồ xuân hương, nơi bạn có thể tìm hiểu về những cấm kỵ trong văn hóa Việt Nam. Bên cạnh đó, Luận văn thạc sĩ nghiên cứu hiện tượng làng cười dưới góc độ nhân học văn hóa trường hợp làng cười văn lang phú thọ sẽ giúp bạn khám phá thêm về các hiện tượng văn hóa độc đáo tại Việt Nam. Cuối cùng, Luận án tiến sĩ tính tẩu trong đời sống văn hóa người tày tuyên quang sẽ mang đến cho bạn cái nhìn sâu sắc về văn hóa của một cộng đồng dân tộc khác. Những tài liệu này sẽ là cơ hội tuyệt vời để bạn mở rộng hiểu biết và khám phá thêm về văn hóa đa dạng của khu vực.