chương I trong cuốn sách “Primitive culture”, đã viết rằng: “Văn hóa hay văn minh, được hiểu theo nghĩa rộng của dân tộc học, là một toàn bộ phức thể bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục và mọi khả năng và tập quán khác mà con người có được với tư cách một thành viên của xã hội”7. Ở định nghĩa này ta thấy văn hóa được hiểu theo nghĩa rộng, văn hóa là một phức thể nhiều mặt, văn hóa là một thành tựu do con người tạo nên và con người có được xét trong bối cảnh xã hội. Theo Từ điển “Oxford Dictionary of Philosophy” định nghĩa: “Văn hóa là lối sống của một dân tộc, bao gồm những thái độ, giá trị, tín ngưỡng, nghệ thuật khoa học, phương cách nhận thức, nếp nghĩ và hoạt động”8. Còn theo cách giải thích của Lại Cao Nguyện trong Từ điển Từ Hán Việt: “Văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra nhằm phục vụ nhu cầu của con người (như trình độ sản xuất khoa học, văn học- nghệ thuật, nếp sống, đạo đức, tập quán…”9 Tổng giám đốc UNESCO đã đưa ra định nghĩa về văn hóa như sau: “Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo trong quá khứ và hiện tài.
Qua các thế 6 Trần Ngọc Thêm, Cơ sở văn hóa Việt Nam, NXB Giáo dục, 1999, tr 10 7& 8 Nguyễn Thừa Hỷ, Văn hóa Việt Nam truyền thống-Một góc nhìn, NXB Thông tin và Truyền thông, 2011, tr 8 9 Lại Cao Nguyện, Từ điển Hán- Việt, NXB Khoa Học Xã hội, 2007, tr 524 14 kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống các giá trị, các truyền thống và các thị hiếu- những yếu tố xác định đặc tính riêng của từng dân tộc”10. Cũng theo tổ chức UNESCO của Liên Hợp Quốc, trong Hội nghị toàn thể khóa thứ 31 họp ngày 02/11/2001, trong Bản “Tuyên ngôn phổ quát về Đa dạng văn hóa”, trong đó có nêu lên định nghĩa chung về văn hóa như sau: “Văn hóa phải nên được nhìn nhận như một tập hợp những nét khác biệt về đời sống tinh thần, vật chất, trí tuệ và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm xã hội, nó bao gồm văn học nghệ thuật, thêm vào là lối sống, phong cách chung sống, hệ giá trị, truyền thống và tín ngưỡng”11. Về khái niệm văn hóa dân gian Thuật ngữ quốc tế “Folklore” - Văn hóa dân gian, được W J.Thom sử sụng đầu tiên vào năm 1846 để chỉ “phong tục, tập quán, nghi thức, mê tín, ca dao, tục ngữ…của người đời trước”12. Ở Việt Nam, thuật ngữ “Folklore” đã được sử dụng từ lâu và tùy theo mỗi thời kỳ được dịch ra tiếng Việt là “Văn học dân gian”, “Văn nghệ dân gian” và nay là “Văn hóa dân gian”.
Theo Giáo sư Tiến sĩ Ngô Đức Thịnh cho rằng: “Việc quan niệm rộng hẹp và chuyển sang tiếng Việt khác nhau như vậy là do sự thay đổi nhận thức của chúng ta về văn hóa dân gian và cũng do sự tiếp thu ảnh hưởng của các quan niệm Folklore từ các trường phái khác nhau trên thế giới”13. Và Giáo sư Tiến sĩ Ngô Đức Thịnh cũng cho rằng ngày nay, ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu triển khai công tác sưu tầm, nghiên cứu về văn hóa dân gian trên các lĩnh vực sau: Ngữ văn dân gian, Nghệ thuật dân gian, Tri thức dân gian, Tín ngưỡng, Phong tục và Lễ hội. 10 Chu Xuân Diên, Cơ sở văn hóa Việt Nam, NXB Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh, 2002, tr 10. 11 Universal Declaration on Cultural Diversity, UNESCO, 2001, dẫn theo Nguyễn Thừa Hỷ, Văn hóa Việt Nam truyền thống-Một góc nhìn, NXB Thông Tin và Truyền thông, 2011, tr 9 12 http://www.vn/nghien-cuu/van-hoa-viet-nam/vhvn-nhung-van-de-chung/678-ngo-duc-thinh- van-hoa-dan-gian-va-van-hoa-dan-toc.html 13 http://www.vn/nghien-cuu/van-hoa-viet-nam/vhvn-nhung-van-de-chung/678-ngo-duc-thinh- van-hoa-dan-gian-va-van-hoa-dan-toc.html 15 Ngữ văn dân gian bao gồm: Tự sự dân gian (thần thoại, cổ tích, truyền thuyết, truyện cười, ngụ ngôn, vè, sử thi, truyện thơ… Trữ tình dân gian (ca dao, dân ca); Thành ngữ, tục ngữ, câu đố dân gian Nghệ thuật dân gian bao gồm: Nghệ thuật tạo hình dân gian (kiến trúc dân gian, hội họa dân gian, trang trí dân gian…); nghệ thuật biểu diễn dân gian (âm nhạc dân gian, múa dân gian, sân khấu dân gian, trò diễn…) Tri thức dân gian bao gồm: Tri thức về môi trường tự nhiên (địa lý, thời tiết, khí hậu…); tri thức về con người (bản thân): y học dân gian và dưỡng sinh dân gian; tri thức ứng xử xã hội (ứng xử cá nhân và ứng xử cộng đồng); tri thức sản xuất (kỹ thuật và công cụ sản xuất) Tín ngưỡng, phong tục và lễ hội: Các lĩnh vực nghiên cứu trên của văn hóa dân gian nảy sinh, tồn tại và phát triển với tư cách là một chỉnh thể nguyên hợp, thể hiện tính chưa chia tách giữa các bộ phận (ngữ văn, nghệ thuật, tri thức, tín ngưỡng phong tục…), giữa hoạt động sáng tạo và hưởng thụ trong sinh hoạt văn hóa, giữa sáng tạo văn hóa nghệ thuật và đời sống lao động của nhân dân.
Để nghiên cứu văn hóa dân gian với tư cách là một chỉnh thể nguyên hợp chúng ta cần phải có một quy phạm nghiên cứu tổng hợp. Văn hóa dân gian là một thực thể sống, nảy sinh, tồn tại và phát triển gắn với sinh hoạt văn hóa cộng đồng của quần chúng lao động. Vì vậy, khi nhận thức, lý giải các hiện tượng văn hóa dân gian phải gắn liền với môi trường sinh hoạt văn hóa của nó, tức là các sinh hoạt văn hóa của cộng đồng, trong đó cộng đồng gia tộc, cộng đồng làng xã giữ vai trò quan trọng. Người ta thường nói văn hóa dân gian là “cội nguồn của văn hóa dân tộc” là „văn hóa gốc”, “văn hóa mẹ”.
Điều đó hàm nghĩa văn hóa dân gian gắn với lịch sử lâu đời của dân tộc, là nguồn sản sinh và tiếp tục nuôi dưỡng văn hóa dân tộc. Có con người là có văn hóa, có dân tộc là có văn hóa dân tộc. Văn hóa đó trước hết là 16 văn hóa dân gian, văn hóa của quần chúng nhân dân. Qua văn hóa dân gian, nhân dân lao động “tự biểu hiện mình, tự phản ánh cuộc sống của mình”.2 Đôi nét về văn hóa dân gian Korea Hàn Quốc là một trong những quốc gia của Đông Bắc Á nên Hàn Quốc cũng có những nét văn hóa dân gian đặc trưng của nền văn hóa phương Đông.
Trước đây Korea là một nước nông nghiệp nên điều kiện địa lý- tự nhiên như đất đai, núi non, sông suối, khí hậu thường xuyên tác động đến đời sống con người. Con người luôn phải quan hệ với tự nhiên, tác động vào tự nhiên và chinh phục tự nhiên. Cuộc sống cộng đồng, đặc biệt tổ chức làng là một sự cố kết đời này qua đời khác tạo thành truyền thống không chỉ cho quá khứ mà cả với hiện tại và tương lai. Nền văn hóa Nông nghiệp- Làng đã tạo nên một bản sắc, một phong tục tập quán của người bản xứ được thể hiện qua các lễ hội cổ truyền, từ việc đính ước, cưới xin, kiêng kỵ, ma chay đến các biểu tượng hóa thần linh mang ý nghĩa tín ngưỡng và tôn giáo.
Lễ hội cổ truyền trở thành một di sản văn hóa phong phú ở bán đảo Triều Tiên. Trải qua mấy nghìn năm thăng trầm của lịch sử, lễ hội vẫn tồn tại và trải rộng khắp mọi miền của đất nước và suốt cả bốn mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông. Lễ hội truyền thống nhằm tái hiện cuộc sống nông nghiệp, tái hiện lịch sử đấu tranh xây dựng và bảo vệ chủ quyền đất nước, giữ vững bản sắc dân tộc và phong tục tập quán. Hầu hết các lễ hội được phản ánh trong các truyện cổ tích như truyện Cái chùy yêu quái, truyện Cục bướu biết hát, truyện Sự ngạc nhiên của nhà sư.
Người Đông Á chúng ta thường quan niệm rằng sự kết hợp hài hòa giữa âm và dương kiến tạo và làm biến đổi vạn vật trên thế gian. Âm là bóng râm, dương là ánh nắng. Âm dương còn có nghĩa là nữ và nam, quần thần và quân vương. Vạn vật trên thế gian đều mang trong mình vận khí âm dương, khi đối lập nhau, khi hài hòa, khi biến đổi.
Đối với các chữ số, số chẵn được gọi là âm, số lẻ là dương. Những ngày trùng hai lần số dương đều là những ngày quan trọng đối với các dân tộc có nền văn hóa nông nghiệp. Dù hiện nay, Hàn Quốc là một nước có nền công nghiệp phát triển mạnh và đã có những ảnh hưởng hiện đại hóa phương Tây trong đời sống văn hóa, song cho đến nay quốc gia này vẫn lưu giữ được nhiều nét đẹp Á Đông riêng có của 17 dân tộc Hàn. Một trong những nét đẹp văn hóa đặc sắc đó là văn hóa Tết.
Ngày mùng 1 tháng 1 âm lịch là ngày Tết Nguyên Đán. Văn hóa Tết âm lịch cổ truyền của người Hàn cũng như người Việt Nam, không khí tết đã tràn ngập từ những ngày cuối năm âm. Vào ngày 30 tết, các gia đình đều dọn vệ sinh sạch sẽ nhà cửa. Buổi tối trước giao thừa, họ thường tắm bằng nước nóng đêt tẩy trần.
Các thanh tre được đốt trong nhà để xua đuổi tà ma vì tục truyền do tiếng nổ của các thanh tre sẽ làm cho ma quỷ khiếp sợ bỏ chạy. Đêm giao thừa không ai ngủ cả, vì theo truyền thuyết nếu ngủ thì sáng hôm sau sẽ bị bạc trắng cả lông mi và đầu óc kém minh mẫn khi thức dậy. Vào ngày Tết mọi người mặc trang phục truyền thống Hanbok cùng cả nhà cử hành nghi lễ thờ cúng tổ tiên. Sau đó con cái bái lạy cha mẹ và cả nhà quây quần cùng nhau thụ hưởng những đồ ăn vừa cúng tổ tiên.
Truyện Bí mật về vẻ ngoài của cóc cho ta thấy phong tục của người Hàn vào dịp năm mới “vào mùa xuân con người thường làm bánh và đi leo núi, họ ăn bánh và ngắm phong cảnh” Trong một năm thì ngoài Tết Nguyên Đán là Tết có ngày lẻ tháng lẻ thì Tết Đoan Ngọ cũng nằm trong ngày lẻ tháng lẻ. Đó là mùng 5 tháng 5 âm lịch. Người Hàn Quốc gọi ngày Tết Đoan Ngọ là Surinal. “Suri” có nghĩa là “Thần”, là “cao”, tức là vị thần tối cao, ám chỉ Mặt Trời.
Vào ngày này, người Hàn tổ chức nhiều trò chơi dân gian và tập tục truyền thống nhằm cầu một năm mùa màng bội thu. Mỗi địa phương đều có những tập quán truyền thống đặc trưng của mình như: người dân tổ chức cúng tế lên đồng để cầu mong bình an và ấm no, còn các nô bộc thường ngày lào động cật lực thì nay được đeo mặt nạ nhảy múa ca hát tưng bừng được gọi là “Kịch mặt nạ của những người nô bộc”.