đặt vấn đề, tựa hồ như những hệ thống đưa ra thí nghiệm, một sự phân kỳ ý kiến chất phác, được phản ánh rất hay ở Aristotle. Theo đó, chúng ta thấy, giữa lôgích triết gia cổ đại và lôgích triết gia cận đại có một mối quan hệ mật thiết, khi viết 245 Khoa học lôgích, Hegel đã đọc khá kỹ các tác phẩm về lôgích học của Aristotle. Các quy luật của lôgích hình thức Theo Aristotle, để nhận thức đúng, hay tư duy có tính xác định thì chủ thể nhận thức cần phải tuân thủ ba quy luật cơ bản của lôgích học: 1) Quy luật đồng nhất, được ông xây dựng trên luận điểm: “Không thể tư duy về một cái gì đó, nếu người ta không tư duy về nó một cách đồng nhất”1. Điều này có nghĩa là, tư duy phải luôn nhất quán từ đầu đến cuối, tránh các trường hợp i) tiền hậu bất nhất, ii) đánh tráo khái niệm, iii) đánh tráo luận đề, iv) đánh tráo đối tượng (đánh trống lảng) trong quá trình bàn luận về một đối tượng nào đó.
Việc tuân thủ nhất quán quy luật đồng nhất giúp chúng ta tư duy một cách chính xác, tư duy đúng đối tượng và tư duy hiệu quả, không làm phức tạp hóa vấn đề trong quá trình tranh luận. 2) Quy luật cấm mâu thuẫn của ông được xây dựng trên luận điểm: “Chúng ta không thể công nhận rằng có một sự vật vừa tồn tại, vừa không tồn tại trong cùng một khoảng thời gian”2. Tuân thủ quy luật này giúp chúng ta tránh được sự mâu thuẫn trong quá trình nhận thức, nghĩa là khi bàn luận về phẩm chất của một sự vật, hiện tượng nào đó trong cùng một thời điểm thì không thể vừa ________________ 1, 2. Aristotle: Tuyển tập các tác phẩm, Sđd, t.
246 khẳng định, lại vừa phủ định nó. Quy luật cấm mâu thuẫn phản ánh bản chất lôgích lưỡng trị của Aristotle, theo đó khi đánh giá một sự vật, sự việc, vấn đề nào đó chúng ta chỉ có thể đi đến kết luận là đúng (chân) hay sai (giả) mà không thể có phương án khác vừa đúng vừa sai. Quy luật này là cơ sở phương pháp luận để đi đến quy luật bài trung. 3) Quy luật bài trung được xây dựng trên luận điểm: “Nhìn chung, không thể có một cái gì đó nằm giữa hai thành phần đối lập nhau.
Cần phải khẳng định tương đối rằng, cái gì đó đã được khẳng định thì không thể phủ định nó. Điều này sẽ trở nên rõ ràng khi chúng ta định nghĩa thế nào là chân lý, thế nào là sai lầm”1. Theo Aristotle, tư duy phải hoàn toàn nhất quán, phân lập đúng sai, không thể có sự nhập nhằng, lập lờ nước đôi trong quá trình phát biểu về đối tượng. Các ý kiến đối lập nhau không thể cùng đúng hay cùng sai, mà trong đó nhất thiết phải có sự phân định, nếu ý kiến này đúng thì ý kiến phủ định nó là sai và ngược lại.
Ngoài việc bàn về các quy luật của quá trình tư duy chính xác, Aristotle còn đề cập đến phép định nghĩa và phép chứng minh, tạo nên sự phong phú về nội dung của môn lôgích hình thức. Phép định nghĩa trong lôgích học của ông dựa trên cơ sở thuyết siêu hình học, theo ông, một định nghĩa chỉ hoàn hảo, trọn vẹn khi nó bao quát được cả ________________ 1. Aristotle: Tuyển tập các tác phẩm, Sđd, t. 247 hai phương diện vật chất và hình thức, chỉ ra sự thống nhất giữa chúng trong đối tượng cần định nghĩa.
Nghĩa là định nghĩa cần chỉ ra một cách rõ ràng xem đối tượng (cần định nghĩa) được cấu thành từ những yếu tố gì và tại sao lại như vậy (nguyên nhân của sự cấu thành đó). Phép định nghĩa gắn liền với phép chứng minh (làm rõ vấn đề bằng bằng chứng hiện thực), ông gọi đó là định nghĩa chứng minh. Phép chứng minh khoa học nhất theo ông là thông qua suy luận gồm ba phán đoán, hai phán đoán làm tiền đề và một phán đoán làm kết luận, gọi là “tam đoạn luận” (Syllogism). Aristotle cũng đã bàn đến vấn đề quy nạp trong phép chứng minh thông qua những liệt kê đơn giản.
Ông cho rằng, muốn đi đến kết luận hay tri thức chung (của một lớp, một loài nào đó), trước hết cần phải tìm hiểu về bản tính cái riêng, tức của từng cá thể (của loài, lớp đó). Do vậy, quy nạp liệt kê là con đường khoa học để đi đến nhận thức về cái chung, đem đến tri thức mang tính phổ quát, tất yếu hay chân lý. Ngoài quy nạp liệt kê, ông còn nói đến phép quy nạp theo hình thức tam đoạn luận hay suy luận quy nạp. Như vậy, theo Aristotle lôgích học là khoa học về tư duy chính xác, là công cụ, phương tiện nhận thức khoa học, nó rất cần thiết để xây dựng các giả thuyết khoa học tự nhiên, đặc biệt là toán học.
Ông đòi hỏi việc nhận thức khoa học không được tùy tiện, chủ quan, ngụy biện mà phải tuân thủ những quy tắc, niêm luật rõ ràng, có như 248 vậy tư duy mới đạt đến độ chính xác cao, nghĩa là đạt đến chân lý. Tuy nhiên, chất liệu cấu thành nội dung tư duy cũng là một yếu tố vô cùng quan trọng, các chất liệu đó chính là khái niệm, phán đoán, suy luận và sự liên kết hay quan hệ biện chứng giữa chúng, hình thức mối liên kết tạo thành một phương thức tư duy như đã nói là tam đoạn luận. Tam đoạn luận trong lôgích học Aristotle Theo các nhà lôgích học hiện đại, đóng góp cơ bản nhất của Aristotle cho lôgích học chính là việc ông đã xây dựng một mô thức tư duy dựa trên việc suy luận trừu tượng gián tiếp mà không cần phải thực hiện các bước thực nghiệm tiếp theo, nghĩa là không cần phải tiếp xúc trực tiếp với đối tượng nghiên cứu. Phương thức tư duy đó dựa trên việc rút ra một phán đoán kết luận đúng từ những phán đoán làm tiền đề đúng đã cho trước (đã kiểm nghiệm, hoặc là tri thức hiển nhiên), ông gọi việc khám phá tri thức như vậy là syllogism1.
Trong tác phẩm Prior Analytics ông định nghĩa: “Tam đoạn luận là một thuyết trình mà trong đó, nếu một điều gì tất yếu được giả định, thì từ đó dĩ nhiên có thể rút ra kết quả của những điều khác một cách tương ứng”2. Theo định nghĩa này thì, tri thức có được là hiển nhiên (không cần chứng minh bằng ________________ 1. Syllogism nghĩa là kết luận, suy ra (conclusion, inference). Aristotle: Tuyển tập các tác phẩm, Sđd, t.
249 thực tế), vì tri thức giả định (làm tiền đề) cũng là những tri thức đúng một cách hiển nhiên. Tuy nhiên, ông cũng lưu ý rằng, tri thức làm giả định hay tiền đề là rất quan trọng, nó phải đúng một cách tất yếu, nếu không mọi kết luận rút ra từ đó sẽ là sai lầm. Cơ sở khoa học để Aristotle xây dựng syllogism chính là các khoa học tự nhiên như toán học, vật lý học, sinh vật học, v. trong đó toán học đóng một vai trò quan trọng, bởi vì tri thức toán học, như sau này I.
Kant nói, đều mang tính tiên nghiệm (a-priori), tức không cần phải kiểm chứng bằng kinh nghiệm, vì đó là những tri thức đã được các nhà khoa học kiểm chứng trước đó. Theo Aristotle, trong một syllogism nhất thiết có ba thuật ngữ, hai thuật ngữ biên (A, C) và một thuật ngữ liên kết hai thuật ngữ biên đó với nhau (B). Một syllogism hoàn chỉnh phải có ba phán đoán, hai phán đoán tiền đề và một phán đoán kết luận. Là một người cầu toàn, Aristotle chỉ tập trung vào syllogism hoàn hảo mà hình thức bao gồm ba thành phần: hai phán đoán làm tiền đề và một phán đoán làm kết luận.
Aristotle đưa ra bốn dạng syllogism mang tính hoàn hảo như sau: 1. Một số A là B là B là B là B Tất cả B Không B nào Tất cả B Không B nào là C là C là C là C Tất cả A Không A nào Một số A Tất cả A là C là C là C không là C 250 Hai syllogism điển hình mà Aristotle thường lấy làm ví dụ trong các văn bản lôgích của mình, đó là: 1. Mọi người đều phải chết (All men are mortal. Tất cả người Hy Lạp đều là All Greeks are men.
người Tất cả người Hy Lạp đều phải All Greeks are mortal). Mọi người đều phải chết (All men are mortal. Socrates là người Socrates is men Socrates phải chết Socrates is mortal). Về tam đoạn luận hoàn hảo, ông viết: “Tôi gọi tam đoạn luận hoàn thiện là một tam đoạn luận mà nó không cần cái gì khác, ngoài cái đã được tiếp nhận, để vạch ra tính tất yếu, còn tam đoạn luận không hoàn thiện là một tam đoạn luận mà nó cần cho điều này ở một cái hay nhiều cái”; “Nếu ba thuật ngữ có mối quan hệ với nhau sao cho thuật ngữ sau cùng nằm trọn trong thuật ngữ giữa, còn thuật ngữ giữa thì nằm trọn trong thuật ngữ đầu hoặc nằm hoàn toàn ngoài nó, thì đối với các thuật ngữ biên này tất yếu có tam đoạn luận hoàn thiện”.
Theo Aristotle, syllogism có vai trò quan trọng trong việc giảng dạy tri thức, vì “mọi sự giảng dạy đều dựa trên điều đã biết, một số điều dạy tiến hành từ quy nạp và một số từ syllogism. Quy nạp là khởi điểm cho tri thức về cái phổ quát cũng như cái đặc thù, trong khi tam đoạn luận tiến hành từ các 251 nguyên lý phổ quát”1. Những nguyên lý phổ quát làm tiền đề cho một syllogism nào đó như đã nói là những tri thức mang tính phổ quát tất yếu đã được chứng nghiệm qua thời gian. Tam đoạn luận như đã nói ở trên là phương tiện lôgích để Aristotle xây dựng Lôgích quy nạp - một hình thái phản ánh sự đa dạng của lôgích cũng như sự phong phú của tư duy con người.
Tuy mới dừng lại ở việc hiểu quy nạp như là sự liệt kê các sự kiện thông qua các phán đoán dựa trên kinh nghiệm thông thường lúc đó, nhưng Aristotle đã đặt nền móng cho sự chứng minh khoa học bằng những bằng chứng có thể tin cậy được, làm phong phú thêm vấn đề nhận thức luận. Syllogism của Aristotle đã được các triết gia thời trung đại phát triển, họ đồng thời dùng các chữ cái Latinh ghép lại thành một từ nào đó để chỉ các modus suy luận lôgích của Aristotle như Barbara, Cesarer, Cametres, Celarent, Darapti, việc làm này giúp cho người học có thể nhớ (một cách máy móc) các hình thức suy luận đúng. Hơn thế, các triết gia trung đại còn vận dụng syllogism của Aristotle như một phương tiện để chứng minh cho sự tồn tại hợp lý của chúa trời, điển hình trong số đó là Saint Anselm và Thomas D’Aqiun.