Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Diễn ngôn và các mã cơ bản của diễn ngôn trong tiếp cận tác phẩm văn học 1. Khái niệm diễn ngôn Khái niệm diễn ngôn ra đời từ rất sớm và ngày càng được sử dụng trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu của khoa học nhân văn và xã hội học. Diễn ngôn (với nghĩa từ nguyên là discourse) có bản chất là dạng thức trao đổi thông tin (communication), vận hành theo mối quan hệ logic từ đâu ra và hướng đến đâu (from.
Theo cách hiểu thông thường, đó là sự tiếp nhận qua lại giữa chủ thể truyền thông tin và đối tượng nhận thông tin của quá trình trao đổi. Khi trở thành thuật ngữ của ngôn ngữ học, diễn ngôn vẫn hàm chứa bản chất cơ bản của nghĩa từ nguyên, bao gồm quan hệ giữa chủ thể diễn ngôn, khách thể diễn ngôn và nội dung diễn ngôn. Từ thế kỉ XX, trong bối cảnh sự chuyển hướng mạnh mẽ của hệ lý thuyết, diễn ngôn đã được bổ sung thêm những hàm nghĩa mới, gắn liền với một mô hình nghiên cứu văn hóa văn học, trở thành một trong những thuật ngữ mang tính chất chìa khóa trong các ngành khoa học xã hội và nhân văn. Theo bài viết "Ba cách tiếp cận khái niệm diễn ngôn" của tác giả Nguyễn Thị Ngọc Minh [Nguồn trích dẫn: https://phebinhvanhoc.vn/ba- cach-tiep-can-khai-niem-dien-ngon/], nghĩa mới của diễn ngôn có cội nguồn sâu xa từ trong các trước tác của ba nhà tư tưởng lớn của thế kỉ XX: F.
Thứ nhất, đối với các nhà cấu trúc chủ nghĩa, diễn ngôn được hiểu là cấu trúc của ngôn ngữ/ lời nói, đó là những nguyên tắc tổ chức, sắp xếp ngôn từ trong hệ thống theo một quy luật riêng. Nét nghĩa này bắt nguồn từ trong cuốn giáo trình “Ngôn ngữ học đại cương” của Saussure, được sử dụng rộng 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com rãi trong thời cực thịnh của chủ nghĩa cấu trúc với tên tuổi của nhiều nhà nghiên cứu cấu trúc chủ nghĩa như: R.Barthes, Todorov, Gennette… Thứ hai, đối với nhà nghiên cứu M.Bakhtin, diễn ngôn được định nghĩa như là một loại lời nói thấm đẫm hệ tư tưởng. Hướng này xuất hiện khi Bakhtin thấy hạn chế của ngữ học Saussure, đồng thời cũng thấy hạn chế của các nhà lý luận thuộc phái hình thức chủ nghĩa: không thừa nhận mối quan hệ giữa văn học và ý thức hệ xã hội. Ông là người đề xuất hướng nghiên cứu “siêu ngôn ngữ học”, phản đối lối nghiên cứu ngôn từ tách khỏi đời sống xã hội và ý thức hệ.
Theo Bakhtin, diễn ngôn luôn thấm đẫm tư tưởng, cảm xúc, thái độ chủ quan của người nói, hay nói cách khác, nó luôn tồn tại dưới dạng kép: lời nói - hệ tư tưởng. Như vậy, diễn ngôn có bản chất là đối thoại. Trung tâm điểm của cách tiếp cận thứ ba về diễn ngôn là những tư tưởng của M. Theo ông, diễn ngôn vừa là công cụ, vừa là hệ quả của quyền lực.
Tri thức mà chúng ta có cũng là sản phẩm được tạo thành từ các diễn ngôn, đồng thời, là kết quả của những mâu thuẫn quyền lực. Tất cả những tư tưởng này của Foucault cho thấy ông chủ yếu đi sâu nghiên cứu những yếu tố chi phối việc kiến tạo và vận hành các diễn ngôn. Từ đó, trong bài viết "Ba cách tiếp cận khái niệm diễn ngôn", tác giả Nguyễn Thị Ngọc Minh kết luận: “Diễn ngôn có thể hiểu là cấu trúc của ngôn ngữ (lời nói), diễn ngôn là lời nói - tư tưởng hệ và diễn ngôn như là công cụ để kiến tạo tri thức và thực hành quyền lực. [Nguồn trích dẫn: https://phebinhvanhoc.vn/ba-cach-tiep-can-khai-niem-dien-ngon/] Theo luận án tiến sĩ “Sự chuyển đổi diễn ngôn lý luận, phê bình văn học Việt Nam từ thời kỳ đổi mới đến nay” của tác giả Trần Thị Ngọc Anh, quan niệm diễn ngôn được hiểu là “hệ thống siêu ngôn ngữ được hiện diện qua văn bản hoặc phi văn bản về một chủ đề nào đó trong đời sống như chính trị, quân sự, đạo đức, kinh tế, nghệ thuật, văn học… Mỗi chủ đề tạo thành một đơn vị diễn ngôn.
Tổng hòa các đơn vị diễn ngôn tạo thành hệ thống diễn ngôn trong xã hội. Hệ thống diễn ngôn này chịu sự tác động của cơ chế quyền 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lực và trạng thái tri thức mà quy định thực tiễn phát ngôn của con người bằng những nguyên tắc căn bản trong dùng từ, diễn đạt, kiến tạo văn bản và kết hợp các hệ thuật ngữ của một giai đoạn lịch sử hoặc một thời đại. Diễn ngôn do đó chính là bản thể tư tưởng của con người trong thực tiễn luận bàn, diễn giải về các vấn đề trong đời sống cũng như học thuật một cách có chiến lược, tuân theo trật tự và mang tính liên văn bản” [1. Từ quan niệm trên của tác giả Trần Thị Ngọc Anh, có thể thấy khi được vận dụng vào nghiên cứu khoa học xã hội, việc vận hành diễn ngôn phụ thuộc vào yếu tố chủ quan của chủ thể: tư tưởng, thái độ, tài năng.
và các yếu tố khách quan: luật định xã hội, luật tục cộng đồng. Nó gắn liền trước hết với khái niệm ý thức hệ. Do đó, có thể hiểu một cách ngắn gọn: diễn ngôn bao hàm lời nói, tức là nó có tồn tại dưới dạng phát ngôn chủ quan của một cá nhân. Tuy nhiên, diễn ngôn lại phụ thuộc vào ngữ cảnh giao tiếp và có khả năng phát triển nâng tầm để trở thành tuyên ngôn cho một giai cấp nhất định, cho một thời đại cụ thể.
Một diễn ngôn được cho là phù hợp với thời đại khi nội dung của nó trùng khớp với tư tưởng chung của xã hội đương thời. Chính vì vậy, không nên chỉ xem xét diễn ngôn trên phương diện ngôn ngữ mà còn cần khai thác diễn ngôn như một công cụ để nghiên cứu các tác phẩm văn học. Các tác giả xây dựng hình tượng nhân vật trong tác phẩm thông qua việc miêu tả ngoại hình, hành động, tâm lý và lời thoại của nhân vật… Với nhiều tác phẩm văn học, lời thoại của nhân vật cũng chứa đựng những quan điểm, thái độ của tác giả, hay nói cách khác, xây dựng phát ngôn của nhân vật là cách thức để tác giả bộc lộ tư tưởng, thái độ về một vấn đề nào đó. Trên cơ sở tổng hợp những quan niệm khác nhau của các học giả khi nghiên cứu diễn ngôn trong lĩnh vực văn chương, có thể thấy trong nghiên cứu văn học có ít nhất hai mã chi phối việc tạo lập và vận hành các diễn ngôn: mã thể loại và mã hệ tư tưởng.
Trong khuôn khổ đề tài này, chúng tôi sử dụng lý thuyết diễn ngôn để nghiên cứu các phát ngôn (bao gồm có lời độc thoại, đối thoại và các sáng tác 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thơ) của nhân vật, dựa trên mã thể loại truyền kì và mã hệ tư tưởng phong kiến. Tuy nhiên, cần xác định rõ rằng trong đề tài khoa học này, diễn ngôn không phải là một khái niệm của ngôn ngữ học mà nó là công cụ lý thuyết để nghiên cứu văn học. Chúng tôi sử dụng diễn ngôn như một phương tiện văn học để phân tích quan niệm về chữ “thân” qua các phát ngôn về tình yêu của một số nhân vật nữ trong tác phẩm. Khái niệm về mã và mã hệ tư tưởng, mã thể loại của lý thuyết diễn ngôn 1.
Khái niệm về mã Mã (code) là một khái niệm được sử dụng nhiều trong lĩnh vực ngôn ngữ học, công nghệ thông tin, kí hiệu học và nghiên cứu văn học. Theo nghĩa thông thường nhất, mã là nguyên tắc xác lập mối quan hệ giữa thông tin và kí hiệu. Trong lĩnh vực ngôn ngữ học, Saussure là người đầu tiên sử dụng khái niệm mã. Thứ nhất, mã có một vai trò rất quan trọng trong quá trình giao tiếp, bởi nhờ nó mà người nhận có thể hiểu được thông điệp của người gửi.
Vì thế, mã là yếu tố xác lập nên mối quan hệ giữa người phát và người nhận, giữa thông điệp và ý nghĩa thông điệp. Thứ hai, mã là một ngôn ngữ, bởi nó có những đơn vị và qui tắc tổ chức các đơn vị ấy thành một hệ thống, giúp truyền đạt thông tin. Hiểu như vậy, thì văn bản cũng có mã của nó, đó là hệ thống ngữ pháp chi phối việc tạo lập văn bản, là chìa khóa để giải mã thông điệp giữa người gửi và người nhận trong giao tiếp. Ngôn ngữ cũng được coi là một mã, vì nó là nguyên tắc xác lập quan hệ giữa thông tin và kí hiệu dạng lời nói hoặc chữ viết, phải nắm được những qui tắc của ngôn ngữ, người ta mới có thể giao tiếp.
Văn hóa, văn học đều có một hệ thống mã, mà dựa vào đó, người ta có thể tiếp cận được các tác phẩm và thích nghi với một nền văn hóa. Mã hệ tư tưởng Thuật ngữ hệ tư tưởng (ideology) có lịch sử tồn tại trên dưới hai trăm năm, từng là đối tượng bàn luận của khoa học luận (Tracy và các nhà bách khoa thư), triết học (Marx, Enghen), kí hiệu học (M.Barthes và 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhiều nhân vật khác). Các từ điển triết học hiện có đều cho rằng, Antoine Louis Claude Destutt de Tracy (1754 - 1836) - nhà triết học, chính trị học, kinh tế học người Pháp - là người đầu tiên sử dụng thuật ngữ này vào năm 1801, trong tác phẩm nổi tiếng: “Cơ sở tư tưởng hệ”. Trong cách sử dụng của Tracy thời ấy thì hệ tư tưởng là khoa học về tư tưởng.
Tuy nhiên, hệ tư tưởng với nội hàm này chưa thực sự chính xác. Sau Tracy, vấn đề hệ tư tưởng trở thành đối tượng luận bàn của triết học và cách luận giải về phạm trù này thay đổi theo nhiều hướng (trong triết học của H.Tain, triết học Heghen) nhưng đáng chú ý hơn cả là những ý kiến của các nhà khoa học chủ nghĩa Mác. Những luận điểm cơ bản về hệ tư tưởng được Marx và Enghen trình bày trong Hệ tư tưởng Đức (1845 - 1846): hệ tư tưởng là tập hợp những tư tưởng và quan điểm dưới dạng lí thuyết, mang tính hệ thống, phản ánh quan hệ của các nhóm xã hội (tầng lớp, giai cấp) với thế giới hiện thực và quan hệ giữa các nhóm xã hội với nhau. Như vậy, hệ tư tưởng không phải là tư tưởng của cá nhân, cũng không bó hẹp chỉ là tư tưởng của một giai cấp, mà được hiểu theo nghĩa rộng, là tất cả những nền tảng tri thức, tâm lí, văn hóa.
chung cho một nhóm người nào đó.