Chương I: Thời đại Heian và khái niệm niém bi cảm(aware) Hoàng Thị Mỹ Nhị 12 Luận văn thạc sĩ Niém bi cảm (aware) trong "Truyện Genji" của Murasaki Shikibu Chương II: Niém bi cảm với số phận các nhân vật Chương III: Niém bi cảm với thiên nhiên tươi đẹp CHƯƠNG | THO! ĐẠI HEIAN VÀ KHÁI NIỆM NIEM BI CAM (AWARE) I.1 Thoi dai Heian Thời ki Heian kéo dai từ năm 794 đến năm 1185. Năm 781, Thiên hoàng Kammu lên ngôi và dời kinh đô từ Nara về kinh Heian vào năm 794 đánh dấu đất nước bước sang một thời đại mới kéo dài khoảng 400 năm. Đây được xem là thời kì văn hoá, xã hội phát triển mạnh mẽ và đa dạng. Trong thời kì này đặc biệt có sự phát triển của dòng họ nhiếp chính Fujiwara, dòng họ thống trị triều đình, bành trướng thế lực.
Dựa vào vị thế Thiên hoàng, các nhánh của dòng họ này một mặt có những cải cách để củng có luật lệnh, một mặt tranh giành quyền lực lẫn nhau tạo nên những biến cố về chính trị. Các gia tộc khác đều bị dòng họ này đồng hoá bằng các cuộc hôn phối. Vậy nên, giới quý tộc thời kì này rất giàu có, xa hoa, hưởng lạc. Các công trình văn hoá được xây dựng nhiều phục vụ cho tín ngưỡng và sự phát triển của đô thị.
Cuối thời Heian, loạn chiến tranh giành quyền lực diễn ra khiến chính trị xã hội bất an. Tầng lớp võ sĩ, cũng như các thế lực mới khác bắt đầu có vị trí trong xã hội. Xã hội đang chuyên dan sang xu hướng khác, nhường lại một thời kì vàng son đã qua dé bước vào một thời kì mới với nhiêu biên cô, thời kì Kamakura. Hoàng Thị Mỹ Nhị 13 Luận văn thạc sĩ Niém bi cảm (aware) trong "Truyện Genji" của Murasaki Shikibu Có thé nói, bất kỳ một quan niệm thầm mĩ thuộc thời kỳ nào trong xã hội cũng đều chịu sự ảnh hưởng của các tư tưởng thời đại đó.
Niém bi cam(aware) được xem là một quan điểm thâm mĩ bị ảnh hưởng sâu sắc từ tôn giáo mà đậm nhất vẫn là Phật gido(Thién Zen) trong thời dai Heian. *Tôn giáo Những thay đổi trong thế giới quan của người Nhật có sự xâm nhập của các hệ thông tư tưởng nước ngoài: Phật giáo, Khong giáo, Cơ đốc giáo và chủ nghĩa Mác về sau, trong đó Phật giáo đã ảnh hưởng sâu sắc đến văn hoá Nhật và xuất hiện từ rất sớm trên đất nước mặt trời mọc này. Phật giáo vào Nhật qua con đường Bách Tế vào khoảng thế kỷ thứ VI, còn Không giáo du nhập vào Nhật sớm hơn (thế kỷ IV) nhưng Phật giáo đóng vai trò quan trọng trong bộ máy nhà nước của họ. Từ thế kỷ VII đến thế kỷ XVI ảnh hưởng Phật giáo đậm nét nhất.
Tuy nhiên, người Nhật vẫn có sự ton tại lâu bền của văn hoá bản xứ. Vậy nên, thế giới quan người Nhật là hệ thống tư tưởng đa thần , phức tạp.Mtel một nhà Nhật Bản học đã cho rằng: “Người Nhật mượn Phật giáo và Nho giáo cũng như người châu Âu đã mượn đạo cơ đốc và triết học Hy Lạp về cái Logos. Nhưng họ từ chối cái mệnh trời, những khoa thi và các viên chức Nho sĩ sự hoa mỹ bồng bột của một số nghệ thuật tạo hình. Sau cùng, hoàn cảnh đảo quốc đã cho phép Nhật Bản có ý thức về cả tính độc đáo của nó lẫn sự tồn tại của các nền văn minh khác.
Trung Quốc chỉ biết có một nền văn minh, nghĩa là bản thân nó, còn những người khác đều là man rợ. Nhật Bản, trong khi giữ khoảng cách với nền văn minh Trung Hoa, thậm chí còn có khả năng hơn đề hiểu về tính đa dạng của các giá trị về văn minh, và như vậy là nó có thể mở cửa mà không từ bỏ bản thân mình”[3 1,53 |. Từ thời Nara(710 - 794) Phật giáo được đưa vào trong chính sách của nhà nước, chùa chiên được xây dựng khang trang bên cạnh đời sông nhân Hoàng Thị Mỹ Nhị 14 Luận văn thạc sĩ Niém bi cảm (aware) trong "Truyện Genji" của Murasaki Shikibu dân nghèo khổ. Cuộc sống bị đảo lộn bởi thế lực nhà sư lên ngôi.
Vào thời Heian, tôn giáo đóng vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của người dân theo đúng nghĩa của nó, bởi có sự can thiệp của giai cấp thống trị nhăm kìm giữ sự lộng hành của giáo giới, tăng ni phật tử, không để xảy ra như thời Nara. Phật giáo tạo cho người dân niềm tin vào cuộc sống, vào thế giới bên kia của cuộc đời, tin vào đức Phật dé con người sống hướng thiện. Tuy nhiên, đây là thời kỳ cực thịnh của giai cấp quý tộc nên đã tác động rất lớn tới đời sống chính trị và tôn giáo. Lúc này ở Nhật xuất hiện các tông phái Phật giáo mới.
Các giáo phái du nhập từ Trung Hoa như: Thiên thai tông và Chân ngôn tông. Trong số các tín đồ có nhân vật Kukai đã sáng lập ra Mật giáo, được xem là người thông tuệ nhất trong lịch sử tôn giáo Nhật Bản, đã ảnh hưởng đến ngay cả giới quý tộc, triều đình phong kiến. Hành đạo của Mật giáo, Chân ngôn tông có nhiều yếu tố trong đó có Thiền định. Ông truyền dạy con đường thành Phật thông qua thực hiện các thực hành của Mật giáo trong đó có việc ngồi Thiền.
Và con người khi đạt đến tối thượng gọi là Chân ngôn. Chân ngôn đã trở thành tôn giáo của dân tộc, do đó văn học nghệ thuật được khuyến khích dưới sự ảnh hưởng của Kukai. Chính nghệ thuật bị ảnh hưởng, đi liền với tôn giáo vì bàn đến nghệ thuật là đến với cái chân-thiện-mỹ và văn học đã làm nên công cụ là phương tiện sinh động nhất về nhân sinh quan tôn giáo. Trong văn hoá, đặc biệt là văn học, tác phẩm Manyoshu(Vạn diệp tập) đề cập đến “sự phù du của kiếp người” và có thể xem một phần ảnh hưởng của Phật giáo.
Tuy nhiên quan niệm sự phù du của kiếp người không phải hạt nhân triết học của Phật giáo. Sự ảnh hưởng của Phật giáo còn thé hiện rõ vào thời ky Heian, tuy nhiên, nó đã bị biến đổi trong cảm quan của người Nhật cùng với sự xâm nhập của Thần đạo(Shinto). Sự dung hợp giữa Phật giáo và Thần đạo diễn ra vào thời Nara. Đến thời Heian Phật giáo có sự bảo trợ của chế độ phong Hoàng Thị Mỹ Nhị 15 Luận văn thạc sĩ Niém bi cảm (aware) trong "Truyện Genji" của Murasaki Shikibu kiến nên phát triển mạnh và chia nhiều tông phái, trong đó có Thiền tông.
Một số giáo phái Phật giáo cho rằng: chúng ta đang sống trong thời thứ ba, xét trong sự luân chuyên về mặt thời gian thì thế giới này đang nằm trong sự suy thoái. Vậy nên đời sống của con người được xem là suy đồi trầm trọng. Phật giáo đóng vai trò quan trọng trong suy tư của người Nhật về thực tại tối hậu. Cho dù họ bị ảnh hưởng sâu rộng của quan niệm Thần Đạo về thế giới, nhân sinh nhưng vẫn bị ảnh hưởng bởi viễn tượng Phật giáo về cái vô thường, vô ngã, duyên khởi nghiệp.
Nghệ thuật Phật giáo ở Nhật cũng đóng vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến cảm quan thẩm mĩ người Nhật. Nhất là khi xã hội xem Phật giáo là quốc giáo, đóng vai trò quan trọng trong hoạt động của dé chế cai trị. Nghệ thuật Phật giáo được sử dụng rất nhiều trong hành đạo nhằm mục đích làm cho không khí tiến hành nghỉ lễ, tạo nên không gian và thời gian linh thiêng, nhằm tăng cường quyền năng tối thượng của Phật giáo. Mặc dù nghệ thuật Phật giáo Trung Hoa du nhập vào Nhật nhưng đã được văn hoá của dân bản xứ tái tạo lại.
Nghệ thuật Thiền Zen ở Nhật chịu ảnh hưởng quan niệm thâm mĩ của đời nhà Tống ở Trung Hoa. Đặc điểm của nó là sử dụng những khoảng trống cần thiết, sự kiềm chế .dé tạo nên một cảm giác gọi là “sắc là không, không là sắc” theo quan niệm của Đại Thừa. “Nghệ thuật Phật giáo ở Nhật Bản, giống như nghệ thuật Shinto(Than đạo), luôn luôn phản ánh mối quan tâm về tính tự nhiên và giản di, mang lại quan niệm rằng đời sống là nghệ thuật sống đẹp và thanh cao”[56,354]. Bên cạnh đó, quan niệm phi nhị nguyên của Đại Thừa về luân hồi và niết bàn biểu hiện dưới dạng cái Đẹp trong đời song thuong nhat.
Quan niệm về cái Dep rat đơn giản nhưng rất khó biéu hiện. Chang hạn như nét chấm phá trong bức tranh thiên nhiên hoặc trong những bài thơ. Phật giáo Hoàng Thị Mỹ Nhị 16 Luận văn thạc sĩ Niém bi cảm (aware) trong "Truyện Genji" của Murasaki Shikibu năm bắt một cảm nhận sâu xa của trải nghiệm niết bàn trong khoảnh khắc ngay giữa đời sống tự nhiên đề diễn tả cảm thức về cái vô thường. Chính vì vậy tất cả “niềm bi cảm” bị chi phối bởi thế giới quan Phật giáo, đậm đặc ở Thiền Zen.
Quan niệm đạo đức của Thiền trong Phật giáo đã khăng định thực tại có ca đúng và sai, thiện và ác. Và moi giá tri đạo đức đều là tương đối. Đức hạnh không chỉ tuân giữ giới luật mà còn phải trải nghiệm, thức tỉnh nội tâm mà thành. Như vậy, Thiền tông đã dé cao sự vận động nội tại của bản thé con người.
Tinh hướng nội thé hiện rõ trong quan niệm về đạo đức này. Chính vì vậy Thiền ở Nhật đã chỉ ra con đường chuyền hoá rất đặc trưng là không chủ đích, không chủ tâm. Dogen khuyên rằng chỉ nên ngồi yên lặng không làm gì, dé cho tâm trí trống rỗng. Dé như vậy dé nhận ra tâm thanh tịnh của Phật giáo và trải nghiệm trạng thái giác ngộ và thực hành tham thiền.
Thiền khi vào Nhật Bản đã lột bỏ tính huyền bí của Ấn Độ và tính chất trừu tượng, siêu hình, quan điểm nghịch thường của Đạo Lão và tư tưởng thực dụng của Không Giáo. Thiền mang đặc điểm tinh tế, chính xác và đơn giản ở Nhật. Vừa là nguồn gốc phát sinh cũng là cơ sở của văn học nghệ thuật ở Nhật Bản, Thiền gợi hứng cho Trà đạo, Hoa đạo, Thư đạo, Thiền hoạ, Khứu đạo, Cung đạo, Kiếm đạo. Thần đạo là một tín ngưỡng tôn giáo bản địa xuất phát từ Nhật Bản, tuy vậy nó vẫn có ảnh hưởng của Phật giáo và mỗi quan hệ đó qua lại lẫn nhau.
Do tính chất mặt trời của Phật đại nhật mà các tín đồ của Chân Ngôn cho là vị thần tối cao của Thần đạo: Amaterasu(nữ thần mặt trời) là hiện thân của đại Phật ở Nhật. Đó là cái sốc của Thần đạo Nhị nguyên, có sự bao hàm cả Đạo Phật và Thần đạo. Vì thế việc hành đạo của cả hai cùng một lúc nhưng không mâu thuần với nhau.