mở đầu cho lịch sử khoa kinh tế chính trị vì đã đặt những cơ sở lý luận ban đầu cho các lý luận then chốt sau này, mặc dù các cơ sở lý luận đó còn rất nông cạn. Nhìn chung về mặt lịch sử, do điều kiện kinh tế hàng hóa tương đối phát triển nên các tác giả Hy Lạp thời cổ đã xây dựng được một số các quan điểm kinh tế làm điểm xuất phát cho sự phát triển của các học thuyết kinh tế sau này. II- TƯ TƯỞNG KINH TẾ CỦA LA MÃ THỜI CỔ. Đặc điểm KT-CT-XH: Từ thế kỷ thứ V trước công nguyên bước vào chế độ chiếm hữu nô lệ và bị tiêu diệt vào thế kỷ V sau công nguyên.
La Mã là đỉnh cao nhất của chế độ chiếm hữu nô lệ; lực lượng sản xuất chủ yếu là nô lệ, tổ chức kinh tế là nền đại điền trang, đồng thời kinh tế công thương nghiệp cũng khá phát triển. Trong xã hội có ba tầng lớp: quý tộc, dân La Mã và nô lệ với mâu thuẫn giai cấp gay gắt dẫn tới khởi nghĩa của nô lệ. Một số tư tưởng kinh tế nổi bật: + Bảo vệ kinh tế đại điền trang với hai đại biểu là Carôn và Varôn. Cả hai đưa ra các biện pháp cần thiết để sử dụng lực lượng lao động nô lệ sao cho có lợi nhất cho chủ nô.
+ Bảo vệ chế độ chiếm hữu nô lệ: Xixeron chủ trương đàn áp nô lệ, bóc lột các dân tộc khác để cứu vãn nền cộng hòa chủ nô. + Về sự phát triển của kinh tế hàng hóa: Xixeron có nói đến vai trò của phân công lao động, khuyến khích phát triển tư bản thương nghiệp và cho vay nặng lãi. Tư tưởng kinh tế La Mã phát triển sau Hy Lạp nhưng không phát triển bằng do dựa trên kinh tế đại điền trong và do chưa tập trung chú ý phân tích các vấn đề kinh tế hàng hóa. PHẦN THỨ HAI TƯ TƯỞNG KINH TẾ THỜI TRUNG CỔ Thời Trung Cổ bắt đầu từ thế kỷ IV sau công nguyên khi chế độ chiếm hữu nô lệ tan rã và tư tưởng kinh tế thời Trung Cổ gắn liền với những đặc trưng của thời phong kiến.
Chương III TƯ TƯỞNG KINH TẾ PHƯƠNG ĐÔNG THỜI TRUNG CỔ I- TƯ TƯỞNG KINH TẾ TRUNG QUỐC THỜI TRUNG CỔ. Chế độ phong kiến phương Đông xuất hiện sớm, nhưng chịu ảnh hưởng của chế độ nông nô gia trưởng. Lúc bấy giờ vai trò của nhà nước rất lớn do yêu cầu của phong kiến hóa, của công tác thủy lợi, của nhiệm vụ quân sự, điều này làm cho mâu thuẫn giữa nhà nước Trung ương tập quyền và các lãnh địa ngày càng gay gắt. Tư tưởng kinh tế lúc bấy giờ tuy khá phức tạp nhưng cũng xoay quanh vấn đề sở hữu, vai trò nhà nước, vấn đề kinh tế hàng hóa.
Về vấn đề sở hữu và vai trò của nhà nước: + Lý Xung (450-498) bảo vệ quyền lợi của nhà nước và đưa ra các kiến nghị về thuế có lợi cho nhà nước. + Dương Viêm (618-707): muốn trung hòa lợi ích kinh tế giữa địa chủ, phong kiến với người canh tác, giữa nhà nước với địa chủ bằng cách đề nghị thu thuế bằng tiền, căn cứ vào giá trị sản lượng của các mảnh ruộng khác nhau. + Lục Chí: quan đại thần cuối đời Đường, chủ trương làm dịu mâu thuẫn giữa nhà nước phong kiến với nông dân bằng cách giảm tô, qui định mức sở hữu ruộng đất vừa phải; cho rằng sự giàu có của Vua là phụ thuộc ý dân. + Vương An Thạch: đề cao sở hữu ruộng đất của nhà nước dưới hình thức tổ chức quân điền, lãnh địa lớn.
Về vấn đề kinh tế hàng hóa: Rất ít được các nhà lý luận nghiên cứu. Lục Chí có đề cập sơ lược phạm trù giá cả, thấy được mối quan hệ giữa thuế - giá cả - lượng tiền nhà nước phát hành. Đối với Trung Quốc, tư tưởng kinh tế tuy có phát triển so với thời cổ nhưng cũng xoay quanh kinh tế tự nhiên, bảo vệ sở hữu nhà nước nhằm giải quyết mâu thuẫn giữa nhà nước phong kiến tập quyền với nông dân, với địa chủ ở cát cứ địa phương. Kinh tế hàng hóa kém phát triển cho nên các lý luận về kinh tế hàng hóa rất rời rạc, non kém.
II- TƯ TƯỞNG KINH TẾ CỦA Ả RẬP THỜI TRUNG CỔ. Ả Rập lúc bấy giờ có nền thương nghiệp khá phát triển, do vậy tư tưởng kinh tế chủ yếu là tìm cách biện hộ cho nền sản xuất hàng hóa và bảo vệ thương nghiệp. Các nhà lý luận thời kỳ này thừa nhận quan hệ giai cấp và chấp nhận nô dịch dân tộc khác. Các tư tưởng kinh tế của Ả Rập thời Trung Cổ được tìm thấy trong kinh Coran.
Chương IV TƯ TƯỞNG KINH TẾ PHƯƠNG TÂY THỜI TRUNG CỔ Thời Trung cổ, Phương Tây gắn liền với thời kỳ phong kiến Tây Âu với ba giai đoạn phát triển: sơ kỳ, trung kỳ, hậu kỳ. Vấn đề chung cần phải giải quyết của thời kỳ này là tìm cách bảo vệ quý tộc, nhà nước phong kiến giải thích các hiện tượng kinh tế trong nền kinh tế hàng hóa đang phát triển. Trong thời kỳ này, tuy tư tưởng kinh tế nghèo nàn so với thời cổ nhưng vẫn phản ánh trình độ phát triển cao hơn của nền sản xuất xã hội và vừa có điểm chung, vừa có điểm khác so với thời nô lệ. Điểm chung là cùng bên vực bạo lực, tán dương hiện tưọng cưỡng bức siêu kinh tế, chú trọng phân tích giá trị sử dụng.
Điểm khác so với thời nô lệ là bảo vệ trực tiếp cho lao động, các nhà lý luận thời này là các người hoạt động nhà thờ. I- TƯ TƯỞNG KINH TẾ CỦA AUGUSTIN (354-430). Ông là linh mục nổi tiếng đầu thời Trung cổ, phản ánh quyền lợi của giai cấp địa chủ, qúy tộc, được gọi là “Saint Augustin”. Ông có các quan điểm sau: + Bảo vệ khẩu hiệu “ai không làm thì không ăn”.
+ Khẳng định lao động chân tay cũng vinh dự như lao động trí óc. + Người đầu tiên nêu khái niệm “Giá cả công bằng” để chống đại thương nghiệp và cho vay nặng lãi. Quan điểm kinh tế của ông được tìm thấy qua các tác phẩm: “Đô thành của thượng đế”, “Sám hối”, “Sự trao đổi của ơn huệ”. II- TƯ TƯỞNG KINH TẾ CỦA THOMAS D’AQUIN (1225-1274).
Sơ lược tiểu sử: Thomas d’Aquin sinh trong gia đình quý tộc, là nhà thần học người Ý, phục vụ trung thành giai cấp thống trị. Tác phẩm cực kỳ nổi tiếng của ông trong thời đó là “khái luận về thần học”. Nhờ có uy tín lớn trong thời cổ nên năm 1879 được công nhận là Thánh và hiện nay, uy tín của ông cũng còn khá lớn trong “Trào lưu chủ nghĩa Tô mát mới”. Về thới giới quan và phương pháp luận: Ông đứng trên lập trường chủ nghĩa duy tâm cực đoan của Platon và sử dụng quỹ biện (Casuistique) để trình bày.
Các tư tưởng kinh tế và quan điểm kinh tế cơ bản: + Bảo vệ sự thống trị của nhà thờ và chế độ chiếm hữu ruộng đất phong kiến, coi kinh tế tự nhiên là cơ sở của đời sống xã hội. + Bảo vệ tô phong kiến và biện hộ cho lợi tức. + Tuyên truyền cho lao động chân tay, nhưng lại coi trọng lao động trí óc. + Là người truyền bá học thuyết giá cả công bằng.
Tư tưởng công bằng trong trao đổi đã có từ thời cổ nhưng “giá cả công bằng” là do Augustin nêu lên và người truyền bá học thuyết này lại chính là Thomas d’Aquin. Học thuyết của Thomas bênh vực cho lợi ích của đại địa chủ và nhà thờ, bênh vực chế độ chiếm hữu ruộng đất phong kiến, ca ngợi tư hữu tài sản. Trong học thuyết của mình, Thomas mang lại cho khái niệm “giá cả công bằng” một màu sắc đẳng cấp và sửa đổi một cách căn bản luận điểm của thị dân cho rằng “Giá cả hàng hóa phải phụ thuộc vào số lượng lao động đã hao phí và sự trao đổi phải ngang giá” bằng cách cố chứng minh rằng địa vị xã hội phải được phản ánh vào trong giá cả và giá cả chỉ công bằng khi nào chúng đảm bảo cho mỗi người tham gia trao đổi một cuộc sống tương ứng với cấp bậc xã hội của họ. Như vậy là ông đã giải thích sự hoạt động của quy luật giá trị theo quan điểm đạo đức tôn giáo, đã đụng chạm tới các vấn đề giá trị, giá cả, phân phối thu nhập quốc dân nhưng chẳng hiểu gì về bản chất KT-XH của chúng cả.
Nhìn chung, tư tưởng kinh tế thời Trung cổ đã nhận thức được vai trò của sản xuất hàng hóa và ủng hộ xu hướng phát triển của nó mạnh hơn so với thời cổ, nhưng cũng chưa tiến xa hơn thời cổ là mấy, chỉ dừng lại ở hiện tượng bên ngoài và phân tích một cách chủ quan các hiện tượng đó, chưa nhìn rõ tính quy luật của vấn đề. ***** Chương V CHỦ NGHĨA TRỌNG THƯƠNG I- HOÀN CẢNH XUẤT HIỆN VÀ VẤN ĐỀ CẦN PHẢI GIẢI QUYẾT. Tiền đề xuất hiện: Chủ nghĩa trọng thương là hệ tư tưởng tư sản đầu tiên trong lãnh vực kinh tế, nó phản ánh thời kỳ tan rã của phương thức sản xuất phong kiến và thời kỳ tích lũy ban đầu của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ở châu Âu. Về mặt KT-XH, đây là thời kỳ kinh tế hàng hóa bắt đầu phát triển, giai cấp tư sản cần tiền để kinh doanh-sản xuất, cơn khát tiền của châu Âu bắt đầu bôïc lộ.
Sau các phát kiến lớn về địa lý, sự cướp bóc các thuộc địa bắt đầu diễn ra và ngoại thương thực sự trở thành nguồn cung cấp tiền cho châu Âu. Điều này đòi hỏi phải có lý thuyết để dẫn đường cho hoạt động thương nghiệp. Về một chính trị - xã hội, lúc này chế độ quân chủ ở châu Âu muốn mở rộng thương mại và công nghiệp trong khuôn khổ chế độ phong kiến đang bước vào thời kỳ tan rã, họ muốn có cương lĩnh kinh tế mới để phát triển nền kinh tế và chủ nghĩa trọng thương đã đáp ứng yêu cầu này. Về mặt văn hóa - tư tưởng : đây cũng là thời kỳ hừng sáng của đêm trường trung cổ bởi sự xuất hiện của phong trào phục hưng, của các ngành khoa học tự nhiên, của chủ nghĩa duy vật trong triết học và bởi sự sụt giảm uy quyền của tôn giáo.
Cá nhân đổi mới cách sống và hòa mình vào thực tiễn sống động của nền kinh tế hàng hóa đang phát triển, họ mong muốn được làm giàu và được chỉ cách làm giàu.