CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ STARTUP VÀ THỰC PHẨM HỮU CƠ 1. Tổng quan về hoạt động của startup – công ty khởi nghiệp 1. Khái niệm startup Trong vài năm trở lại đây, cụm từ startup được nhắc đến khá thường xuyên và được gắn với hình ảnh của các thanh niên trẻ tuổi với những ý tưởng táo bạo (thậm chí còn được coi là điên rồ), cùng nhau góp vốn thành lập một công ty nho nhỏ. Nhưng ý niệm đó đã làm mọi người nhầm lẫn cho rằng startup phải là một công ty có quy mô nhỏ và tuổi đời non nớt.
“Khởi sự doanh nghiệp” thường được dùng ngắn gọn với hai từ “Khởi nghiệp”, đề cập tới việc một cá nhân hay nhóm người khởi sự công việc kinh doanh và theo đuổi con đường kinh doanh như một lựa chọn nghề nghiệp (Trần Văn Trang, 2017). Thông thường, Startup – khởi nghiệp được hiểu là thuật ngữ chỉ những công ty đang trong giai đoạn bắt đầu kinh doanh nói chung, nghĩa là những công ty đang ở trong giai đoạn đầu của quá trình hoạt động. Những công ty đang ở trong giai đoạn này thường được cấp vốn bởi chính những người sáng lập để phát triển sản phẩm và dịch vụ của họ. Do nguồn thu hạn hẹp và chi phí cao, hầu hết các startup với quy mô nhỏ thường không ổn định trong khoảng thời gian dài nếu không có nguồn vốn hỗ trợ từ các quỹ đầu tư.
Nguyễn Thị Hà Thanh – Trung tâm sáng tạo và ươm tạo doanh nghiệp (2018), “Khởi nghiệp” là giai đoạn đầu một cá nhân, nhóm cá nhân có ý tưởng kinh doanh và tìm cách gây dựng một tổ chức hay doanh nghiệp để triển khai ý tưởng kinh doanh đó trong các điều kiện thiếu chắc chắn. Theo đó, khởi nghiệp chỉ là một giai đoạn trong cả một hành trình kinh doanh rất dài. Đó là giai đoạn khởi đầu, là giai đoạn mà nhà khởi nghiệp phải đối đầu với rất nhiều khó khăn để biến từ 0 thành 1, từ chưa có gì đến tạo ra cái gì đó trong những điều kiện rất thiếu hụt thông tin, kinh nghiệm và nguồn lực. Đó cũng là giai đoạn mà nhà khởi nghiệp thể hiện rõ nhất năng lực "tạo giá trị" của chính mình – đặc điểm cốt yếu giúp phân biệt giữa một nhà khởi nghiệp (entrepreneur) với những người cũng tham gia các hoạt động kinh doanh nhưng trong những điều kiện khác, giai đoạn khác (khi có sẵn nhiều nguồn lực và có sẵn nhiều thông tin).
Luan van 8 Tóm lại, có thể khái quát rằng, khởi nghiệp là bạn tự mình tạo dựng một công việc kinh doanh riêng, tự quản lí và kiếm thu nhập cho bản thân. Bạn cung cấp và phát triển một sản phẩm hay dịch vụ nào đó mà xã hội cần, mua bán lại một sản phẩm hay cửa hàng đang hoạt động hoặc hoạt động sinh lợi nào đó ví dụ như hoạt động tự kinh doanh cửa hàng như bún bò, phở, xôi, quán cafe, tiệm Internet, cửa hàng mỹ phẩm, cửa hàng tiêu dùng hay mở trang trại trồng cây, chăn nuôi, xưởng sản xuất một mặt hàng nào đó hay đơn giản bạn chỉ tham gia quá trình thương mại đơn giản tức là mua đi bán lại. Người khởi nghiệp đang tạo ra giá trị có lợi cho người cho xã hội hoặc nhóm khởi nghiệp, cho các cổ đông của công ty, cho người lao động, cho cộng đồng và nhà nước. Bên cạnh đó, khởi nghiệp bằng việc thành lập doanh nghiệp sẽ tạo tăng trưởng kinh tế và dưới một góc độ nào đó sẽ tham gia vào việc phát triển kinh tế và xã hội nói chung.
Phần lớn các startup đều có một mục tiêu đó là phải phát triển để dần trở thành một công ty “bền vững”. Mục tiêu trong giai đoạn startup chưa phải là đạt tối đa lợi nhuận, có thật nhiều khách hàng, nâng giá trị thương hiệu,… mà chính là các startup đó phải thực hiện rất nhiều thử nghiệm và phải điều chỉnh mô hình kinh doanh liên tục để có thể xác lập một mô hình khả thi, vững vàng, có lợi nhuận, có thể chuẩn hóa và có thể nhân rộng quy mô. Sự ra đời và phát triển của startup Không ai có thể biết chính xác “Thời kì khởi nghiệp” (the startup era) bắt đầu từ khi nào. Thế nhưng khái niệm “startup” được phổ biến rộng rãi khi có sự xuất hiện của hệ thống Thung lũng Silicon.
Thung lũng Silicon hay còn được gọi là Thung lũng Điện tử nằm ở vùng phía Nam của vùng vịnh San Francisco tại Bắc California ở Mỹ. Ban đầu tên này được dùng để chỉ một số lượng lớn các nhà phát minh và hãng sản xuất các loại chip silicon (bộ xử lý vi mạch bằng silic), nhưng sau đó nó trở thành cái tên hoán dụ cho tất cả các khu thương mại công nghệ cao (high – tech) trong khu vực. Chúng ta có thể khẳng định rằng những startup đầu tiên là những công ty thuộc hệ thống Thung lũng Silicon với những cái tên đình đám như International Business Machines (IBM); tập đoàn công nghệ máy tính đa quốc gia được thành lập năm 1911 bởi Charles Ranlett Flint; ông hoàng của thiết bị Luan van 9 di động smartphone Apple thành lập vào năm 1976 bởi Steve Jobs, Steve Woniaz và Ronald Wayne hay công cụ tìm kiếm lớn nhất thế giới Google được thành lập năm 1998 và còn rất nhiều công ty lớn khác thuộc hệ thống Thung lũng Silicon.1: Thống kê số thương vụ đầu tư vào các doanh nghiệp khởi nghiệp tại Việt Nam năm 2011 đến 2017 Nguồn: Theo Tạp chí Tài chính Tại Việt Nam, những ghi nhận đầu tiên về các thương vụ đầu tư cho doanh nghiệp khởi nghiệp được bắt đầu từ năm 2011 và được thống kê liên tục cho đến thời điểm hiện tại. Trong những năm gần đây, phong trào khởi nghiệp ở Vệt Nam có nhiều chuyển biến tích cực.
Điều này được thể hiện trực tiếp thông qua số thương vụ được nhận đầu tư và các lĩnh vực khởi nghiệp nhận được nhiều sự quan tâm trong thời gian vừa qua. Theo VnExpress thống kê xu hướng khởi nghiệp tại Việt Nam, tính đến hết năm 2017, hệ sinh thái khởi nghiệp tại Việt Nam đã ghi nhận có 92 thương vụ đầu tư với tổng giá trị là gần 300 triệu USD, tăng gần 2 lần so với số thương vụ của năm 2016 và tăng hơn 9 lần so với năm 2011. Đồng thời, năm 2017 cũng ghi nhận sự Luan van 10 thay đổi trong trào lưu đầu tư vào các doanh nghiệp khởi nghiệp so với năm 2016. Thống kê về 6 lĩnh vực khởi nghiệp nhận được sự quan tâm nhiều nhất của các nhà đầu tư bao gồm Thương mại điện tử, Công nghệ thực phẩm, Công nghệ tài chính, Công nghệ giáo dục, Bất động sản và truyền thông, đã chỉ ra hai xu hướng sau: Một là, sự quan tâm của các nhà đầu tư với các lĩnh vực khởi nghiệp tại Việt Nam thay đổi theo thời gian.
Cụ thể, trong số 6 lĩnh vực được quan sát chỉ có thương mại điện tử, công nghệ tài chính và truyền thông duy trì được sự quan tâm của các nhà đầu tư trong giai đoạn 2016 – 2017, còn lại các lĩnh vực khác đã có sự biến động mạnh. Điều này cho thấy, các nhà đầu tư đã đánh giá tích cực về tiềm năng khởi nghiệp trong các lĩnh vực được cho là tiến bộ tại Việt Nam và phù hợp với xu hướng toàn cầu hóa trên thế giới. Hai là, sự quan tâm của các nhà đầu tư với cùng một lĩnh vực khởi nghiệp tại Việt Nam cũng thay đổi theo thời gian, cụ thể công nghệ tài chính và thương mại điện tử là hai lĩnh vực đánh dấu sự đảo chiều rõ rệt nhất, được giới chuyên môn quan tâm và các nhà đầu tư chú ý. Theo phóng viên Anh Tùng, Trung tâm thông tin và thống kê Khoa học công nghệ, Hệ sinh thái khởi nghiệp ở Việt Nam (2018), năm 2016 được đánh giá là năm của các doanh nghiệp khởi nghiệp về công nghệ tài chính.
Lĩnh vực này nhận được nhiều khoản đầu tư nhất với 129,1 triệu USD, chiếm 63,8% tổng số tiền đầu tư vào khởi nghiệp. Cũng trong năm 2016, lĩnh vực thương mại điện tử đứng thứ hai với chỉ 34,7 triệu USD, bằng 26,87% so với lĩnh vực công nghệ tài chính. Cho đến hết năm 2017, thương mại điện tử vươn lên dẫn đầu với 83 triệu USD, chiếm 33% số vốn đầu tư. Còn lĩnh vực công nghệ tài chính chỉ nhận được 57 triệu USD tiền đầu tư, bằng 50% so với năm 2016, tụt xuống xếp hạng thứ hai.
Tổng quan về ngành thực phẩm hữu cơ 1. Khái niệm thực phẩm hữu cơ Thực phẩm hữu cơ là những loại thực phẩm được sản xuất bằng phương thức và tiêu chuẩn dựa trên các quy định của từng quốc gia, tổ chức đối với nông nghiệp hữu cơ. Tiêu chuẩn về thực phẩm hữu cơ là khác nhau trên thế giới; tuy nhiên, nông nghiệp hữu cơ nói chung luôn hướng đến nuôi trồng thúc đẩy cân bằng sinh thái và Luan van 11 bảo tồn đa dạng sinh học. Trong sản xuất nông nghiệp hữu cơ có thể hạn chế sử dụng một số loại thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ và phân bón tổng hợp.
Thực phẩm hữu cơ cũng không được phép xử lý bằng chiếu xạ, dung môi công nghiệp hoặc các chất phụ gia thực phẩm tổng hợp. Theo Jerom Irving Rodale – cha đẻ của ngành trồng trọt hữu cơ ở Mỹ thì thực phẩm hữu cơ là nông sản không sử dụng thuốc trừ sâu và phân bón hóa học. Theo website của VinaOrganic, xuất phát từ niềm tin của nông dân, rằng cây trái lớn lên bằng phân xanh và không sử dụng hóa chất sẽ cho ra sản phẩm với chất lượng tốt hơn. Tuy nhiên, cho đến nay, vẫn chưa có các thông tin bằng chứng đầy đủ của y khoa về những tuyên bố thực phẩm hữu cơ là an toàn hơn hay khỏe mạnh hơn so với thực phẩm từ nuôi trồng thông thường.
Có thể có một số khác biệt trong hàm lượng các chất dinh dưỡng và chất ức chế hấp thụ dinh dưỡng ở thực phẩm hữu cơ so với thực phẩm thông thường. Các thay đổi của sản xuất và chế biến thực phẩm dẫn đến không thể kết luận một cách khẳng định tuyệt đối rằng thực phẩm hữu có là an toàn hơn hay tốt hơn thực phẩm thông thường. Theo Cộng đồng Organic Việt Nam, Chứng nhận hữu cơ USDA 2018, Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA), để được chứng nhận là hữu cơ, nông sản phải được nuôi trồng, bảo quản và chế biến trong điều kiện không dùng thuốc trừ sâu, phân bón tổng hợp, công nghệ sinh học và phóng xạ hóa học. Ngoài ra, USDA còn đặt ra quy định nghiêm ngặt cho việc dán nhãn nhằm giúp người tiêu dùng nhận biết chính xác chất liệu hữu cơ có trong các sản phẩm.