Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Sau khi "Đại cách mạng văn hóa" kết thúc vào năm 1976 và Đảng Cộng sản Trung Quốc ban hành nghị quyết Cải cách Mở cửa vào tháng 12/1978, nền văn học Trung Quốc hiện đại đã bước vào giai đoạn chuyển mình sâu sắc, thoát khỏi khuynh hướng "văn nghệ tòng thuộc chính trị". Việc tiếp thu các lý luận phê bình phương Tây đã thúc đẩy sự xuất hiện của nhiều cây bút lớn trên văn đàn đương đại như Lỗ Tấn (ở giai đoạn trước đó với ảnh hưởng mang tính nền tảng), Mạc Ngôn, Dư Hoa, Cao Hành Kiện, Lưu Chấn Vân và Giả Bình Ao. Sinh năm 1952 tại huyện Đan Phượng, tỉnh Thiểm Tây, Giả Bình Ao là tác giả nổi bật với đề tài nông thôn và văn hóa bản địa. Ở tuổi 60, sau 14 tiểu thuyết cùng nhiều giải thưởng danh giá (Giải thưởng Văn học Mao Thuẫn 2008 cho Điệu Tần, Giải thưởng Văn học Lỗ Tấn 2005), ông cho ra mắt tiểu thuyết Đới Đăng (Nhà xuất bản Văn học Nhân dân Trung Quốc, 2013, dung lượng 353 trang tiếng Trung). Tác phẩm được lấy chất liệu từ những tin nhắn thực tế của một nữ cán bộ xã miền núi xa xôi gửi cho nhà văn và được dịch sang tiếng Việt bởi Tiến sĩ Đỗ Văn Hiểu (Nhà xuất bản Văn học phát hành tháng 8/2022).

Do độ lùi thời gian còn ngắn và rào cản ngôn ngữ, các công trình nghiên cứu tại Việt Nam về Giả Bình Ao trước đây chủ yếu tập trung vào các tác phẩm giai đoạn trước như Phế Đô, Cổ Lư, Điệu Tần, Nôn Nóng. Tiểu thuyết Đới Đăng dù đánh dấu bước chuyển đổi về kết cấu tự sự lắp ghép, mạch truyện song song và ngôn ngữ mang phong cách sử ký Tây Hán nhưng chưa được khảo sát một cách toàn diện về cấu trúc hiện thực. Khóa luận này được thực hiện nhằm giải mã hệ thống hiện thực đa tầng trong tác phẩm.

Mục tiêu nghiên cứu: Làm rõ hiện thực đa tầng trong tiểu thuyết Đới Đăng từ nhiều góc độ: hiện thực nông thôn đương đại, hiện thực tâm hồn của người trí thức lý tưởng và hiện thực vô thức. Thông qua việc vận dụng các lý thuyết chuyên ngành, khóa luận chỉ ra sự đổi mới trong nghệ thuật tự sự và phong cách sáng tác của Giả Bình Ao.

Nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Khảo sát và phân tích tầng hiện thực về đời sống nông thôn Trung Quốc đương đại trong quá trình hiện đại hóa tại địa bàn Anh Trấn.
  2. Làm rõ tầng hiện thực tâm hồn của nhân vật chính Đới Đăng trong sự xung đột giữa lý tưởng thẩm mỹ và thực tế xã hội.
  3. Phân tích tầng hiện thực vô thức thông qua chứng bệnh mộng du và không gian đồng hiện kỳ ảo.
  4. Xác định mối quan hệ nhân quả, tương tác biện chứng giữa các lớp hiện thực và chỉ ra ý đồ nghệ thuật của tác giả.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Bản dịch tiếng Việt tiểu thuyết Đới Đăng của Giả Bình Ao do Đỗ Văn Hiểu chuyển ngữ, Nhà xuất bản Văn học ấn hành năm 2022.
  • Phạm vi nghiên cứu: Văn bản tiểu thuyết Đới Đăng; có đối chiếu khảo sát mở rộng với các tác phẩm tiêu biểu khác của Giả Bình Ao (Phế Đô, Điệu Tần, Cổ Lư, Nôn Nóng), truyện ngắn Nhật ký người điên của Lỗ Tấn, cùng các công trình lý luận, phê bình văn học liên quan. Không gian bối cảnh nghiên cứu tập trung vào không gian nghệ thuật thị trấn Anh Trấn (vùng núi Tần Lĩnh, Trung Quốc).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận vận dụng hệ thống lý thuyết văn học và liên ngành chuyên sâu để tiếp cận văn bản:

  • Lý thuyết tự sự học (Narratology): Phân tích phương thức trần thuật, kết cấu lắp ghép phân đoạn, cốt truyện song song và nghệ thuật xây dựng điểm nhìn.
  • Lý thuyết phân tâm học (Psychoanalysis): Phân tích các tầng bậc ý thức, vô thức, cơ chế dồn nén tâm lý, ảo giác và hành vi mộng du của nhân vật trí thức.
  • Thi pháp học và lý thuyết biểu tượng: Giải mã các biểu tượng nghệ thuật trung tâm như "rận", "đom đóm", "chiếc huyên đất", "trạm dịch cổ Anh Dương".
  • Lý thuyết về không gian nghệ thuật và yếu tố kỳ ảo: Phân tích không gian đồng hiện giữa đời sống thực tại và chiều kích tâm linh, huyền ảo.

Phương pháp nghiên cứu:

  1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp: Tổng hợp, kế thừa các kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước về tác giả Giả Bình Ao và tiểu thuyết Đới Đăng (các bài viết của Đỗ Văn Hiểu, Phạm Ánh Sao, Đỗ Thu Thủy, Nguyễn Thị Mỵ, Trần Huỳnh Anh Thơ).
  2. Phương pháp tiếp cận từ lý thuyết tự sự học và phân tâm học: Sử dụng hệ thống thao tác của tự sự học và phân tâm học làm công cụ giải mã cấu trúc tác phẩm và diễn biến tâm lý nhân vật.
  3. Phương pháp phân tích - tổng hợp: Thao tác trực tiếp trên các chi tiết, sự kiện, chuỗi hành động và phát ngôn trong văn bản dịch nhằm khái quát hóa các luận điểm nghiên cứu.

Nguồn dữ liệu: Văn bản tiểu thuyết Đới Đăng (bản dịch của Đỗ Văn Hiểu, 2022); các công trình nghiên cứu in trong Kỷ yếu Hội thảo Khoa học Quốc gia, Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc, các luận văn, khóa luận chuyên ngành Ngữ văn tại các cơ sở đào tạo đại học ở Việt Nam.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tầng hiện thực về nông thôn Trung Quốc đương đại

Chương 1 tái hiện bức tranh toàn cảnh về xã hội nông thôn Trung Quốc trong quá trình hiện đại hóa và công nghiệp hóa thông qua lát cắt đời sống tại Anh Trấn (vùng núi Tần Lĩnh):

  • Biến đổi cảnh quan và khủng hoảng sinh thái: Sự thâm nhập của đường cao tốc, khu mỏ lớn (như vùng Hoa Dương Bình tập trung 10 vạn lao động) và công xưởng sản xuất bình ắc quy đã phá vỡ hoàn toàn vẻ đẹp nguyên sơ của Anh Trấn. Những cánh rừng hoa anh đào, vườn mận mơ, rặng liễu bãi sông bị máy ủi, xưởng cát tàn phá; sông cạn, núi lở, đất đai biến dạng. Tác giả sử dụng hình tượng "rận" bay từ khu mỏ Mãng Sơn sang Anh Trấn như một ẩn dụ về sự ô nhiễm môi trường và sự xâm nhập của lối sống hỗn tạp. Hiện tượng thiên tai cực đoan xảy ra liên tiếp: đợt hạn hán kéo dài khiến các thôn tranh chấp nguồn nước dẫn đến ẩu đả làm 7 người bị thương; trận lũ lụt sau đó làm sạt lở đất khiến 12 người thiệt mạng, cuốn trôi gia súc, nhà cửa, thiệt hại ước tính hàng chục vạn nhân dân tệ.
  • Sự suy tàn của văn hóa và đạo đức truyền thống: Trật tự làng xã kiểu thị tộc truyền thống đi đến hồi kết thúc, tiêu biểu qua cái chết tuyệt tôn của tộc trưởng Nguyên Lão Hải. Chùa Tùng Vân và các miếu thờ cổ rơi vào tình trạng hoang phế, niềm tin tâm linh bị thay thế bằng những cuộc kiện cáo, xô xát nơi công quyền. Đạo hiếu suy thoái nghiêm trọng qua hình ảnh nhân vật Mã Liên Kiều sỉ nhục bố mẹ chồng giữa phố trấn; tình cảm huyết thống bị đồng tiền chi phối (Vương Trung Mậu tổ chức đám cưới cho con gái mời quan khách ủy ban nhưng gạt bỏ người cậu ruột nghèo khó; anh em họ Tiết khinh miệt người em rể Mao Lâm làm nghề thu mua phế liệu). Biểu tượng chiếc huyên đất cổ 6 lỗ phát ra âm thanh của đất bị người đời xem là tiếng sói tru ma gào; vết tích trạm dịch cổ nghìn năm Anh Dương bị bí thư thị trấn cho nổ mìn san phẳng để tránh vướng mắc quy hoạch xây dựng công xưởng.
  • Sự biến đổi của con người nông thôn:
    • Nỗi bất hạnh của người dân lao động: Gia đình Chu Thiệu Tài khốn cùng vì con trai Chu Trụ Thạch chịu án tù chung thân oan ức suốt hơn 10 năm, khi ông chết không có quan tài chôn cất, người con trai xin thi hành án tử hình để mẹ không phải tiếp tục khiếu kiện; bi kịch của 13 người đàn ông đi làm thuê tại khu mỏ trở về mắc bệnh bụi phổi (3 người chết, 10 người nằm chờ chết như Vương Phúc Oa).
    • Sự tha hóa của bộ máy cán bộ cơ sở: Các cán bộ hành chính không được định danh cá nhân cụ thể mà chỉ gọi theo chức vụ (bí thư, trưởng trấn, phó trưởng trấn Mã, cán sự Hầu, Ngô, Trác). Bí thư chạy vạy thăng tiến, làm giả báo cáo, che giấu số người chết trong lũ lụt sang lý do sét đánh, điện giật, đổ tường để bảo vệ thành tích chính trị; phó trưởng trấn Mã ăn thịt thai nhi bồi bổ, trốn tránh công việc; cán sự Hầu, Trác lập phòng tra tấn đánh đập dã man người khiếu kiện Vương Hậu Sinh; trưởng thôn Tây Xuyên trục lợi danh sách hỗ trợ hộ nghèo cho người thân; cán bộ thị trấn ăn quỵt tiền quán ăn của dân.
    • Thói hư tật xấu của một bộ phận thường dân: Sự xuất hiện của những người hành nghề khiếu tố chuyên nghiệp (Vương Hậu Sinh, Trương Cao Dược, Vương Tùy Phong); nhóm lưu manh bất hảo họ Nguyên; sự ki bo, ích kỷ, thói ganh ghét vứt bát cỗ cưới xuống hố nước tiểu.

Chương 2: Tầng hiện thực tâm hồn của nhân vật Đới Đăng

Chương 2 tập trung phân tích thế giới nội tâm của nhân vật trung tâm Đới Đăng - một nữ cán bộ trẻ có học thức, giàu lòng trắc ẩn, phụ trách công tác tiếp dân và xử lý các vụ việc khiếu tố phức tạp tại thị trấn Anh Trấn:

  • Lý tưởng thẩm mỹ và khát vọng nhân văn: Đới Đăng đại diện cho tầng lớp trí thức mang lý tưởng xây dựng một xã hội nông thôn công bằng, trật tự và nhân đạo. Cô dành tình yêu sâu sắc cho cảnh sắc thiên nhiên, văn hóa truyền thống, ra sức bảo vệ di tích trạm dịch cổ, giúp đỡ những người phụ nữ nghèo hái táo kiếm thêm thu nhập, kê đơn thuốc dân gian cho người ốm, tự bỏ tiền nộp phạt thay cho gia đình nông dân nghèo khó. Toàn bộ tâm tư, lý tưởng được cô gửi gắm qua chuỗi tin nhắn và những bức thư giàu chất thơ gửi cho nhân vật Nguyên Thiên Lượng.
  • Mâu thuẫn giữa lý tưởng và thực tại xã hội: Đới Đăng rơi vào trạng thái cô đơn tuyệt đối khi đối diện với guồng máy quan liêu thực dụng của ủy ban trấn và những toan tính, hung hãn của người dân bản địa. Mọi nỗ lực xoa dịu xung đột của cô đều bất thành; cô trở thành đối tượng gánh chịu trách nhiệm thay cho lãnh đạo cấp trên sau vụ ẩu đả giữa dòng họ Nguyên và họ Tiết, dẫn đến việc bị giáng chức và tổn thương tinh thần nặng nề.
  • Biểu tượng đom đóm: Khóa luận phân tích hình ảnh con đom đóm như một ẩn dụ nghệ thuật cốt lõi cho hiện thực tâm hồn nhân vật. Ánh sáng phát ra từ thân xác đom đóm le lói, yếu ớt, chỉ đủ soi sáng chính bản thân nó giữa màn đêm dày đặc của xã hội nông thôn Anh Trấn, biểu trưng cho sự bất lực của cá nhân trí thức trước sự xuống cấp của thực tại.

Chương 3: Tầng hiện thực vô thức

Chương 3 đi sâu vào các cấu trúc tâm lý chiều sâu và phương thức biểu đạt nghệ thuật phi thực tế trong tác phẩm:

  • Hiện thực vô thức qua chứng bệnh mộng du: Sự dồn nén của những chấn thương tâm lý, cảm giác bất lực kéo dài và sự đổ vỡ lý tưởng đã đẩy Đới Đăng rơi vào trạng thái mộng du và ảo giác. Trong trạng thái vô thức, nhân vật thực hiện những hành vi giải phóng xung năng bị đè nén, bộc lộ nỗi sợ hãi, sự hoang mang tột cùng trước những bất công xã hội mà ý thức ban ngày buộc phải chịu đựng. Tác giả khóa luận liên hệ hiện tượng này với mô-típ "người điên" trong Nhật ký người điên của Lỗ Tấn, khẳng định sự tiếp nối truyền thống phê phán hiện thực ở tầng sâu nhân bản.
  • Không gian đồng hiện giữa hiện thực và kỳ ảo: Tác phẩm xóa nhòa ranh giới giữa cõi thực và cõi mộng, giữa không gian sinh hoạt đời thường ngột ngạt và thế giới tâm linh huyền bí của núi rừng Tần Lĩnh. Các chi tiết kỳ ảo, tiếng ma quái, giấc mơ đan xen với các phân đoạn lắp ghép tạo nên một không gian nghệ thuật đa chiều, phản ánh chân thực cuộc khủng hoảng tinh thần của con người trong cơn lốc biến đổi xã hội.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã hệ thống hóa và làm rõ cấu trúc đa tầng của hiện thực trong tiểu thuyết Đới Đăng theo bảng tổng hợp sau:

Tầng hiện thực Không gian / Đối tượng biểu hiện Hiện tượng / Biểu tượng đặc trưng Nội dung phản ánh cốt lõi
Hiện thực nông thôn đương đại Xã hội thị trấn Anh Trấn (dãy núi Tần Lĩnh) Xưởng pin, khu mỏ 10 vạn dân, hạn hán, lũ lụt (12 người chết), con rận, tiếng huyên, trạm dịch cổ. Khủng hoảng sinh thái; sự mai một đạo đức truyền thống; sự tha hóa của cán bộ cơ sở và nỗi bất hạnh của người nông dân nghèo.
Hiện thực tâm hồn Thế giới nội tâm nhân vật nữ cán bộ Đới Đăng Ánh sáng đom đóm, những bức thư gửi Nguyên Thiên Lượng. Sự xung đột gay gắt giữa lý tưởng nhân văn cao đẹp và thực tế quan liêu, thực dụng; sự cô độc, bất lực của trí thức.
Hiện thực vô thức Miền tâm thức bị đè nén, không gian mộng ảo Chứng bệnh mộng du, ảo giác, bóng tối tâm linh vùng núi Tần Lĩnh. Chấn thương tâm lý sâu sắc; tiếng kêu cứu vô thức của cá nhân trước áp lực đời sống xã hội; sự kế thừa mô-típ "người điên".

Kiến nghị và thông điệp rút ra từ nghiên cứu:

  • Quá trình hiện đại hóa và tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với bảo vệ môi trường sinh thái, bảo tồn các di sản và giá trị văn hóa - đạo đức truyền thống.
  • Cải cách hệ thống quản lý hành chính cơ sở, tăng cường tính minh bạch, thực thi pháp chế sát với đời sống thực tiễn của nông dân thay vì chạy theo thành tích bề nổi.

Đóng góp học thuật: Khóa luận là một trong những công trình nghiên cứu chuyên sâu đầu tiên tại Việt Nam tiếp cận toàn diện tiểu thuyết Đới Đăng của Giả Bình Ao sau khi tác phẩm được dịch sang tiếng Việt (2022). Nghiên cứu góp phần bổ sung tư liệu, mở rộng góc nhìn phê bình về bước chuyển đổi phong cách tự sự và thi pháp tiểu thuyết của Giả Bình Ao ở giai đoạn sáng tác sau tuổi 60.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Công trình khảo sát dựa trên văn bản dịch tiếng Việt của dịch giả Đỗ Văn Hiểu (2022), chưa có điều kiện đối chiếu toàn diện với các đặc điểm ngữ âm, phương ngữ địa phương Thiểm Tây trong nguyên bản tiếng Hán; nguồn tài liệu tham khảo chuyên biệt về tác phẩm tại Việt Nam còn ở mức độ sơ khởi.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu so sánh thi pháp tiểu thuyết nông thôn của Giả Bình Ao với các tác giả đương đại cùng thời như Mạc Ngôn, Diêm Liên Khoa, Dư Hoa; đi sâu phân tích phong cách ngôn ngữ mô phỏng sử ký thời Tây Hán trong nguyên tác tiếng Hán.

Giá trị tham khảo

Công trình là tài liệu tham khảo hữu ích cho giảng viên, sinh viên và học viên cao học ngành Văn học (chuyên ngành Văn học nước ngoài, Văn học so sánh, Lý luận văn học), đặc biệt là những người nghiên cứu về văn học Trung Quốc đương đại thời kỳ Cải cách Mở cửa. Phần phân tích cấu trúc ba tầng hiện thực và nghệ thuật tự sự liên ngành (phân tâm học kết hợp tự sự học) có giá trị ứng dụng cao cho các đề tài nghiên cứu thi pháp tiểu thuyết hiện thực mới.

Câu hỏi thường gặp

1. Tiểu thuyết Đới Đăng được hình thành từ chất liệu thực tế nào?
Tác phẩm được Giả Bình Ao xây dựng dựa trên những tin nhắn điện thoại giàu chất thơ do một nữ cán bộ xã công tác tại một vùng núi xa xôi gửi đến. Sau khi nhận thấy nội dung sinh động, nhà văn đã ghi chép lại, trực tiếp đến thâm nhập thực tế cuộc sống tại sơn thôn và hoàn thành cuốn tiểu thuyết.

2. Quá trình hiện đại hóa gây ra những tổn thất cụ thể nào về sinh thái tại Anh Trấn?
Quá trình xây dựng đường cao tốc, khai thác khu mỏ lớn và xây dựng xưởng sản xuất bình ắc quy đã hủy hoại rừng mận mơ, rừng anh đào, làm ô nhiễm nặng nề nguồn nước và không khí. Thiên nhiên bị tàn phá dẫn đến hạn hán kéo dài khiến dân làng ẩu đả làm 7 người bị thương, tiếp đó là trận mưa lũ gây sạt lở làm 12 người thiệt mạng và thiệt hại tài sản hàng chục vạn nhân dân tệ.

3. Sự tha hóa của đội ngũ cán bộ hành chính tại Anh Trấn được thể hiện qua những hành vi nào?
Bí thư thị trấn chạy vạy thăng tiến, cho nổ mìn phá hủy di tích trạm dịch cổ và ngụy tạo nguyên nhân tử vong của các nạn nhân trong lũ lụt (đổ lỗi cho sét đánh, điện giật) để che giấu số liệu; phó trưởng trấn Mã ăn thịt thai nhi bồi bổ và bỏ bê nhiệm vụ; các cán sự Hầu, Ngô, Trác lập phòng tra tấn đánh đập người khiếu kiện Vương Hậu Sinh; trưởng thôn Tây Xuyên biển thủ chỉ tiêu hộ nghèo cho thân nhân.

4. Ý nghĩa biểu tượng của hình ảnh "đom đóm" trong tác phẩm là gì?
"Đới Đăng" có nghĩa là mang theo ngọn đèn, đồng thời gắn liền với hình ảnh con đom đóm. Đom đóm biểu trưng cho vẻ đẹp tâm hồn trong sáng, lòng nhân ái của nhân vật chính, nhưng thứ ánh sáng sinh học yếu ớt đó chỉ đủ soi sáng chính bản thân nó chứ không thể xua tan bóng tối u ám, hỗn loạn đang bao trùm toàn bộ xã hội nông thôn.

5. Mối quan hệ giữa ba tầng hiện thực trong khóa luận được xác định như thế nào?
Ba tầng hiện thực có mối quan hệ nhân quả và tương tác biện chứng: tầng hiện thực nông thôn đương đại tàn khốc va đập trực tiếp vào tầng hiện thực tâm hồn đầy lý tưởng của Đới Đăng, gây ra sự đổ vỡ và dồn nén tâm lý nặng nề, từ đó sản sinh ra tầng hiện thực vô thức qua chứng mộng du và không gian ảo giác.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Thanh Nhàn đã phân tích một cách có hệ thống cấu trúc hiện thực đa tầng trong tiểu thuyết Đới Đăng của Giả Bình Ao. Bằng việc kết hợp lý thuyết tự sự học, phân tâm học và biểu tượng học, công trình đã làm sáng tỏ bức tranh nông thôn Trung Quốc đầy biến động, đồng thời cắt nghĩa bi kịch tinh thần sâu sắc của người trí thức lý tưởng. Đây là công trình nghiên cứu nghiêm túc, góp phần mở rộng nhận thức học thuật về những đổi mới nghệ thuật của Giả Bình Ao trong nền văn học đương đại.