mở đầu cho một chuỗi tác động xấu khó đảo ngược do con người gây ra cho thiên nhiên. Tiếp cận hệ thống không quan niệm tài nguyên một cách đơn giản như vậy. Cái mà chúng ta gọi là "tài nguyên", cần phải chia làm 3 nhóm có chức năng khác nhau: • Nhóm thứ nhất tham gia vào cấu trúc của hệ thống mà nếu bị khai thác, hệ thống sẽ sụp đổ. Ví dụ các vỉa than đá tham gia cấu tạo nên khối núi có khu di tích Yên Tử sẽ không thể coi là "mỏ" than; các hòn đảo đá vôi trên vịnh Hạ Long không thể coi là khoáng sản đá vôi, cát trên bãi tắm biển không nên coi là vật liệu xây dựng.
Những "tài nguyên" có vai trò tương tự không phải là tài nguyên, mà được gọi là vốn cố định của hệ thống hoặc tài nguyên cấu trúc của hệ thống. • Nhóm thứ hai được dùng để nuôi dưỡng, vận hành, đảm bảo chức năng của hệ thống, đảm bảo an toàn sinh thái, nếu bị khai thác, hệ thống sẽ bị nhiễu loạn dẫn đến sụp đổ. Ví dụ, 125 theo tổ chức Nông - Lương thế giới, từ 60% đến 75% tổng lượng tài nguyên nước của một vùng lãnh thổ không được khai thác và sử dụng mà phải để nuôi dưỡng hệ sinh thái, đảm bảo cân bằng và an toàn sinh thái. Khoảng 43% - 45% diện tích tự nhiên của lãnh thổ phải dành cho việc bảo vệ rừng v.
Những loại "tài nguyên" này được gọi là vốn lưu động hoặc tài nguyên vận hành của hệ thống, là loại tài nguyên mà con người không thể khai thác nếu không muốn hệ thống suy thoái và sụp đổ. • Nhóm thứ ba là loại tài nguyên dư thừa, tạo ra đầu ra của hệ thống. Đây chính là loại tài nguyên mà con người có thể khai thác bền vững, còn được gọi là tài nguyên năng suất của hệ thống. Ví dụ lượng thủy sản có thể đánh bắt hàng năm, lượng nước ngầm có thể bơm hút bền vững mỗi ngày.
Việc sử dụng hợp lý tài nguyên là nhằm vào loại đầu ra này. Rõ ràng loại tài nguyên có thể khai thác được là khá nhỏ bé so với cái gọi là “tài nguyên”, theo nghĩa thông thường mà chúng ta quan niệm. Đối với mỗi hệ sản xuất, khai thác tài nguyên năng suất là khai thác bền vững, khai thác tài nguyên vận hành sẽ làm suy thoái hệ thống, khai thác tài nguyên cấu trúc sẽ làm sụp đổ hệ thống. Nghiên cứu trường hợp 1 - hệ thống chăn thả gia súc có sừng ở khu vực sa van khô hạn Ninh Thuận 4.
Đại cương về chăn thả gia súc có sừng ở vùng sa van Ninh Thuận Ninh Thuận nằm ở Cực Nam Trung Bộ.227 ha diện tích đất tự nhiên, đã có 16.889 ha savan khô hạn hiện còn bỏ hoang vì thiếu nước. Khu vực savan khô hạn Ninh Thuận được hình thành do hai hướng: hướng chủ đạo là do suy thoái thảm thực vật rừng để hình thành cảnh quan trảng cỏ, cây 126 bụi xen đất trống, hướng thứ yếu là sự phục hồi của trảng cỏ và cây bụi trên các vùng đất nông nghiệp đã bỏ hoang từ lâu. Savan khô hạn theo nghĩa khoa học, là vùng đất khô nóng phần lớn thời gian trong năm, mùa mưa rất ngắn với lượng mưa khoảng 600 - 1. Lượng mưa ít hơn lương bốc hơi khiến cho quá trình phong hóa hóa học và quá trình tạo đất diễn ra rất chậm.
Hoạt động phong hóa vật lý và thổi mòn mạnh đã tạo ra những cảnh quan bán hoang mạc rất đặc trưng. Thảm thực vật ưu thế là các loại cây thân cỏ cây bụi chịu hạn thưa thốt với một số loài thân gỗ rụng lá hàng năm.000 ha trong tổng diện tích khu vực savan khô hạn hiện nay đã được sử dụng cho chăn thả tự do gia súc có sừng. Tuy có mang lại một số hiệu quả kinh tế, nhưng hoạt động chăn thả tự do với đàn gia súc quá đông (trên 150.000 con năm 2003) đã tàn phá vùng chăn thả, gây xói mòn, trống trọc và trơ sỏi đá một vùng savan vốn đã thưa thớt màu xanh. Để giải quyết việc làm và xóa đói giảm nghèo, trong cơ cấu đầu tư vốn phát triển chăn nuôi đại gia súc chiếm một tỷ lệ đáng kể ở nhiều vùng mà điều kiện canh tác gặp nhiều khó khăn do đất xấu, thiếu nước.
và chăn nuôi mới chỉ ở mức độ thô sơ, tự nhiên dựa vào chăn thả ở các đồng cỏ tự nhiên là chính. Chăn nuôi bò, dê, cừu đã và đang góp phần đem lại một bộ mặt mới cho nông thôn Ninh Thuận với sự gia tăng tổng đàn đều đặn hàng năm trên 15%. Phân tích cấu trúc hệ thống của hệ sinh thái chăn thả gia súc có sừng ở Ninh Thuận Chăn thả GSCS (gia súc có sừng) là một hệ sản xuất có cấu trúc đa phân hệ và quan hệ dòng giữa các phân hệ mang những đặc thù riêng biệt. Ranh giới giữa hệ chăn thả GSCS với các hệ sinh thái nhân văn khác tương đối rõ ràng, với quan hệ đầu vào - đầu ra rất đặc trưng.
Tính ổn định của hệ sinh thái chăn thả GSCS (từ đây 127 trở đi gọi tắt là hệ chăn thả) phụ thuộc vào mối quan hệ với các hệ khác, cũng như vào động lực của các dòng vật chất - năng lượng và thông tin nội tại của hệ. Phân tích cấu trúc hệ thống của một hệ sinh thái là phương pháp hữu hiệu để đánh giá tính bền vững của một hệ thống sản xuất. Mô hình cấu trúc hệ thống của hệ chăn thả Ninh Thuận được trình bày theo mô hình hộp trắng. • Phân hệ vật nuôi Nhóm GSCS được chăn thả ở Ninh Thuận chủ yếu gồm bò, đê, cừu và trâu, trong đó chiếm tỷ lệ cao là bò và dê.
Giống bò phổ biến ở Ninh Thuận là bò vàng (còn gọi là bò cỏ), có tầm vóc thấp, thể trọng nhỏ. Năm 1994 - 1995, tỉnh đầu tư cho mua hơn 20 con bò đực giống lai Sind. Năm 1995 - 1998 đang thực hiện dự án "Cải tạo và nâng trọng lượng gióng bò vàng Ninh Thuận". Đến năm 1997 đã có 10/ 868 con bò lai Zebu (Sind đỏ và Brahman).
Giống dê chủ yếu của địa phương là dê bách thảo (dê ăn trăm thứ cỏ) và một ít (4%) là dê cỏ. Từ năm 1994 tỉnh đã nhập một số 128 tinh đóng viên giống dê sữa để lai. Cừu là đàn duy nhất ở Việt Nam, thích hợp với vùng khí hậu khô hạn. Năm 2003 đàn cừu ở Ninh Thuận có khoảng 7.
Việc nhập các giồng bò và dê nước ngoài vào cải tạo đàn gia súc Ninh Thuận đòi hỏi những giải quyết đồng bộ về chăm sóc, thức ăn và làm quen với khí hậu. • Phân hệ cơ sở hạ tầng Cơ sở hạ tầng của chăn nuôi GSCS là chuồng trại và bãi chăn. Trừ chuồng dê cừu, còn lại trại bò được xây dựng sơ sài, đa phần không có mái che, chỉ quây bằng cọc và dây thép, ẩm thấp và lầy lội (người chăn nuôi cần cho bò dẫm trên phân cho ngấu để dễ bán phân). Các trại chăn nuôi đều không có nguồn thức ăn chủ động (trừ trại dê của công ty Nguồn Sống).
Còn lại đều chăn thả tự nhiên, nhiều trường hợp phải di trú đàn bò đi xa hàng chục tìm và thay đổi chỗ chăn thả liên tục theo kiểu du mục. • Phân hệ quản lý - kỹ thuật Hoạt động chăn thả GSCS ở Ninh Thuận có lịch sử lâu đời và những kinh nghiệm chăn nuôi ở vùng khô hạn được tích lũy tự nhiên trong nhân dân. Sự hình thành các trại chăn nuôi tập trung trong tỉnh xảy ra một cách tự phát bằng cách tích lũy dần dần gia súc, theo hai hướng. - Tăng đàn gia súc và quy mô chăn thả do tích lũy của một hộ chủ trại.
- Tăng đàn gia súc bằng cách gom góp của nhiều chủ, ủy thác cho một hộ đứng ra chăn nuôi (góp vốn hoặc góp gia súc). Vốn cho hoạt động chăn thả chủ yếu do chủ trại tích lũy và huy động trong dân (chủ yếu từ họ hàng), vốn vay của ngân hàng không đáng kể (chỉ khoảng 0,5%). Khoản đóng góp cho ngân sách 129 chưa có quy định thống nhất. Phần lớn các chủ chăn nuôi (dù đàn gia súc hàng ngàn con) không phải đóng góp gì.
Ngay cả bò đực giống (Sind) do tỉnh mua về cũng chủ yếu là trợ giá đáng kể. Một vài xã ví dụ Tân Mỹ, Nhị Hà có thu lệ phí chăn thả 5000đ/ con bò và 2000đ/ con dê, cừu trong 1 năm. Tuy nhiên nhiều chủ trại nói rằng họ thường đóng góp "tuỳ tâm" cho địa phương phục vụ cho công ích từ một vài trăm ngàn đến 1 triệu/ năm. Những khoản đóng góp này không đáng kể và không được coi là nguồn thu ngân sách.
Kỹ thuật chăn nuôi theo kinh nghiệm cha truyền con nối. Một số chủ trại mới kinh doanh chủ yếu thuê người chăn giúp. Việc lai tạo chủ yếm theo hình thức cho bò đực giống ghép dôi tự do trong đàn. Tóm lại, những vấn đề công nghệ và kỹ thuật chăn nuôi tiên tiến hãy còn xa lạ với đại bộ phận trại chăn nuôi trong tỉnh.
• Phân hệ đồng cỏ (thức ăn) Thực ra Ninh Thuận không có đồng cỏ đúng nghĩa (tức là thảo nguyên). Vùng đất chăn thả dược gồm 39.920 ha trong đó có khoảng 3000 ha là ruộng lúa một vụ (trồng lúa vào mùa mưa, chăn nuôi vào mùa hạn), còn trên 36.920 ha là các trảng cây bụi xen cỏ và sỏi đá hoặc cỏ dưới lán rừng, thiếu nước, không thể hoặc rất khó cải tạo thành đất trồng trọt. Phần lớn diện tích chăn thả của tỉnh chỉ có cỏ mọc trong mùa mưa (cỡ 4 tháng/ năng với tốc độ che phủ khác nhau nhưng hầu như ít có vùng chăn thả nào độ che phủ của thực vật chiếm 100% diện tích ngay cả trong mùa mưa. Vào mùa khô, nhất là cuối mùa khô, trừ những diện tích dưới tán rừng trên đất dốc ở Ninh Sơn và Ninh Phước, những vùng chăn thả khác hầu như trơ trụi hoàn toàn, khiến cho đàn gia súc gầy ốm, chết đói nhiều.
Đa phần diện tích chăn thả không có nguồn nước cho gia súc uống. Điều đó đặc biệt căng thẳng trong mùa khô. Nhiều chủ trại 130 đào ao hoặc giếng lấy nước cho gia súc uống 1 lần/ ngày khi đàn gia súc về lại chuồng. • Phân hệ dịch vụ tiêu thụ và thú y Tỉnh chưa có một cơ sở liêu thụ sản phẩm chăn nuôi mang tính ổn định và công nghiệp.
Sản phẩm chăn nuôi được tiêu thụ qua trung gian một số chủ trại bỏ vốn thu gom gia súc, vỗ béo.