Chương 1: Lý luận chung về du lịch văn hóa Chương 2: Tiềm năng và thực trạng khai thác du lịch văn hóa tỉnh Hà Tĩnh Chương 3: Một số giải pháp nhằm phát triển du lịch văn hóa tỉnh Hà Tĩnh 6 z CHƢƠNG 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ DU LỊCH VĂN HÓA 1. Các khái niệm cơ bản 1. Du lịch văn hóa Hiện nay, có nhiều cách hiểu khác nhau về du lịch văn hóa: Theo tổ chức du lịch thế giới (UNWTO): “Du lịch văn hóa bao gồm hoạt động của những người với động cơ chủ yếu là nghiên cứu, khám phá về văn hóa như các chương trình nghiên cứu, tìm hiểu về nghệ thuật biểu diễn, về các lễ hội và các sự kiện văn hóa khác nhau, thăm các di tích đền đài, du lịch nghiên cứu thiên nhiên, văn hóa hoặc nghệ thuật dân gian và hành hương”.
Theo Hội đồng Quốc tế các di chỉ và di tích (ICOMOS): “Du lịch văn hóa là loại hình du lịch mà mục tiêu là khám phá những di tích và di chỉ. Nó mang lại những ảnh hưởng tích cực bằng việc đóng góp vào việc duy tu, bảo tồn. Loại hình này trên thực tế đã minh chứng cho những nỗ lực bảo tồn và tôn tạo, đáp ứng nhu cầu của cộng đồng vì những lợi ích văn hóa – kinh tế - xã hội”. Theo Luật Du lịch Việt Nam thì: “Du lịch văn hóa là hình thức du lịch dựa vào bản sắc văn hóa dân tộc với sự tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống”.
Như vậy du lịch văn hóa là một loại hình du lịch dựa vào việc khai thác các tài nguyên nhân văn của một vùng, quốc gia nhằm thỏa mãn những nhu cầu nhận thức thẩm mỹ của con người khi đi du lịch.Tài nguyên du lịch văn hóa Theo giáo trình địa lí du lịch: Tài nguyên du lịch là các đối tượng tự nhiên, văn hoá lịch sử đã bị biến đổi ở những mức độ nhất định dưới ảnh hưởng của nhu cầu xã hội và khả năng sử dụng trực tiếp vào mục đích sử dụng. 7 z Theo Luật Du lịch Việt Nam 2005: Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử - văn hoá, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch. Tài nguyên du lịch nhân văn là các đối tượng và hiện tượng do con người tạo ra được sử dụng dưới nhiều hình thức trực tiếp và gián tiếp phục vụ cho các hoạt động du lịch. Đặc trưng cơ bản của tài nguyên du lịch nhân văn là: - Có tác dụng nhận thức nhiều hơn là tác dụng giải trí.
- Thời gian du lịch tìm hiểu các đối tượng này thường diễn ra ngắn. Số người quan tâm đến tài nguyên nhân văn thường có trình độ văn hóa, thu nhập và yêu cầu cao. - Các tài nguyên du lịch nhân văn thường tập trung ở các điểm quần cư và các thành phố lớn. - Quá trình khai thác cho mục đích kinh doanh du lịch không có tính thời vụ, ít phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên.
Tài nguyên du lịch nhân văn rất đa dạng và phong phú, quan trọng nhất là: các di sản văn hóa thế giới, các di tích lịch sử, văn hóa, các lễ hội, các làng nghề, các đối tượng du lịch gắn với dân tộc học, các hoạt động văn hóa thể thao. Nhìn từ góc nhìn du lịch thì văn hóa là nguồn tài nguyên nhân văn của du lịch. Vì thế có thể coi các tài nguyên du lịch nhân văn cũng chính là tài nguyên du lịch văn hóa và các tài nguyên du lịch nhân văn được khai thác để phục vụ cho hoạt động du lịch văn hóa. Như vậy, chúng ta có thể hiểu “Tài nguyên du lịch văn hóa gồm truyền thống văn hóa, các yếu tố văn hóa, văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ học, kiến trúc, các công 8 z trình lao động sáng tạo của con người và các di sản văn hóa vật thể và phi vật thể khác có thể sử dụng với mục đích phục vụ du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các điểm du lịch, khu du lịch nhằm tạo ra sự hấp dẫn du lịch”.
Ở một khía cạnh khác có thể hiểu: Tài nguyên du lịch văn hoá là toàn bộ tài nguyên văn hoá có khả năng kết hợp với các loại dịch vụ du lịch tương ứng để tạo thành sản phẩm du lịch. [10,tr 44] Tài nguyên du lịch văn hóa gồm hai loại tài nguyên văn hóa vật thể vật chất và tài nguyên văn hóa phi vật thể, trong đó [3,tr.37] Tài nguyên văn hóa vật thể/ Tài nguyên văn hóa phi vật thể vật chất - Di sản văn hóa thế giới vật - Di sản văn hóa thế giới truyền miệng và phi thể vật thể. - Di tích lịch sử văn hóa, danh - Các lễ hội truyền thống thắng cấp quốc gia và địa - Nghề và làng nghề thủ công truyền thống phương - Văn hóa nghệ thuật - Các cổ vật và bảo vật quốc - Thơ ca và văn học gia - Văn hóa ứng xử, phong tục tập quán - Các công trình đương đại - Văn hóa các tộc người - Văn hóa ẩm thực - Các phát minh, sáng kiến khoa học - Các hoạt động văn hóa, thể thao, kinh tế, xã hội có tính sự kiện Tuy nhiên cần lưu ý không phải tất cả tài nguyên văn hoá đều là tài nguyên du lịch văn hoá. Phải đầy đủ các điều kiện: - Tính đặc sắc, độc đáo - Tính đại diện cao - Có giao thông thuận tiện - Có cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật thích hợp 9 z - Tính liên kết cao - Khả năng tạo dịch vụ du lịch - Sức chứa đảm bảo (cả về không gian và thời gian) Như vậy, tài nguyên du lịch văn hoá chỉ có thể là những tài nguyên văn hoá đặc sắc nhất, có khả năng tạo thành sản phẩm hay hàng hoá du lịch.
Sản phẩm du lịch văn hóa Hiện nay, xuất phát từ nhiều góc độ và cách tiếp cận nên có nhiều khái niệm khác nhau về sản phẩm du lịch: “Sản phẩm du lịch là các dịch vụ, hàng hoá cung cấp cho khách dựa trên cơ sở khai thác các tiềm năng du lịch nhằm cung cấp cho khách một khoảng thời gian thú vị, một kinh nghiệm du lịch trọn vẹn và sự hài lòng” [37,tr 10] Theo Luật du lịch Việt Nam (2005): “Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thoả mãn nhu cầu của khách du lịch trong chuyến du lịch”. Các dịch vụ đó bao gồm: dịch vụ lữ hành, dịch vụ vận chuyển, dịch vụ lưu trú, dịch vụ ăn uống, dịch vụ vui chơi giải trí, dịch vụ thông tin hướng dẫn và các dịch vụ khác nhằm phục vụ nhu cầu của khách. Như vây, hiểu một cách chung nhất sản phẩm du lịch là sự kết hợp những dịch vụ và phương tiện vật chất trên cơ sở khai thác các tài nguyên du lịch đáo ứng nhu cầu của khách du lịch. Sản phẩm du lịch = Dịch vụ du lịch + Tài nguyên du lịch Sản phẩm văn hóa là sản phẩm do con người tạo ra và có trước sản phẩm du lịch.
Một sản phẩm du lịch văn hoá trước hết phải là một sản phẩm văn hóa. Nó sẽ trở thành sản phẩm du lịch khi được sử dụng vào hoạt động kinh doanh du lịch nhằm thỏa mãn các nhu cầu của du khách.18] 10 z Sản phẩm du lịch và sản phẩm văn hoá có sự gắn bó nhưng cũng có nhiều khác biệt như [18, tr. 33] Sản phẩm văn hoá Sản phẩm du lịch - Bền vững, tính bất biến cao. - Thích ứng, tính khả biến cao.
- Mang đậm dấu ấn của cộng đồng cư - Mang nặng dấu ấn của các cá nhân, dân bản địa. các nhà tổ chức, khai thác. - Dùng cho tất cả các đối tượng khác - Chỉ dùng cho khách du lịch, phục vụ nhau, phục vụ mọi người. những đối tượng sử dụng dịch vụ du - Sản xuất ra không phải để bán, chủ lịch.
yếu phục vụ đời sống sinh hoạt văn - Sản phẩm ra phải được bán ra thị hoá – tinh thần của cư dân bản địa. trường, bán cho du khách, phục vụ - Chú trọng giá trị tinh thần, giá trị nhu cầu của các đối tượng du khách không đo được hết bằng giá cả. là cư dân của các vùng miền khác - Quy mô hạn chế, thời gian và không nhau. - Giá trị văn hoá đi kèm giá trị kinh tế - Sản phẩm mang nặng định tính, khó xã hội.
Giá trị đo được bằng giá cả. xác định định lượng. Giá trị sản phẩm - Quy mô không hạn chế, thời gian và mang tính vô hình thể hiện qua ấn không gian xác định. tượng, cảm nhận,.
- Định tính, định lượng được thể hiện qua thời gian hoạt động. Giá trị của sản phẩm là hữu hình, biểu hiện thông qua những chỉ số kinh tế thu được. Sản phẩm du lịch văn hoá vừa là một sản phẩm du lịch vừa là một sản phẩm văn hoá. Đó là sự kết hợp giữa tài nguyên du lịch văn hoá và các dịch vụ du lịch thích hợp phục vụ nhu cầu thưởng thức, khám phá trải nghiệm 11 z những điểm khác biệt mới lạ của du khách.
Giữa chúng có sự gắn bó với nhau nhưng cũng có sự khác biệt. Sản phẩm du lịch văn hoá là một sản phẩm văn hoá được đưa vào hoạt động kinh doanh nhằm thoả mãn các nhu cầu của du khách. Đồng thời sản phẩm du lịch văn hoá cũng là một sản phẩm du lịch được khai thác và sử dụng trong các chương trình du lịch văn hoá [2. Cũng gần với đặc điểm của sản phẩm du lịch thì đặc điểm của sản phẩm du lịch văn hoá là vừa hữu hình vứa vô hình, quá trình sản xuất và tiêu thụ diễn ra gần như đồng thời, chỉ có thể đánh giá được sau khi đã sử dụng xong.
Sản phẩm du lịch văn hoá được cấu thành bởi các yếu tố chính là: Yếu tố tài nguyên du lịch văn hoá (di tích, lễ hội, truyền thuyết.), yếu tố dịch vụ (dịch vụ tham quan, dịch vụ vui chơi giải trí, dịch vụ lưu trú, ăn uống, vận chuyển.) Tài nguyên du lịch văn hoá là yếu tố góp phần quan trọng nhất trong việc tạo ra bản sắc đặc trưng cho điểm du lịch và đóng vai trò quyết định trong việc tạo ra sức hút đối với các thị trường khách du lịch.