CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CHO CÔNG TÁC QUẢN LÍ DI TÍCH VÀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH 1.1 Khái niệm về quản lý Thuật ngữ “Quản lý” ở nước ta được hiểu là sự lãnh đạo, điều hành, giám sát của người hoặc tổ chức cấp trên đối với người hoặc tổ chức cấp dưới. Theo từ điển tiếng Việt, quản lý có hai nghĩa. Thứ nhất, quản lý là tổ chức, điều khiển, theo dõi thực hiện những chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và nhà nước. Nghĩa thứ hai là giữ gìn và sắp xếp.
Theo giáo trình khoa học quản lý của Học viện chính trị Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh thì “Quản lý chính là một hoạt động, các hoạt động do một hoặc nhiều người điều phối hành động của những người khác nhằm thu được kết quả mong muốn”. Khái niệm quản lý là một khái niệm rộng, bao gồm nhiều lĩnh vực. Mặt pháp lý của quản lý bao gồm hệ thống pháp luật điều chỉnh nền kinh tế xã hội. Mặt tâm lý xã hội của quản lý điều chỉnh mọi hành vi của con người.
Vì vậy, không có quản lý chung chung mà bao giờ cũng gắn với một lĩnh vực, một ngành nhất định. Trong quá trình phát triển của xã hội loài người, con người muốn duy trì sự sống cần phải có sự phối hợp hành động của các cá nhân, do đó cần phải có sự quản lý. Quản lý là sự điều tiết cao mang tính xã hội. Nó luôn là hoạt động có đích của chủ thể quản lý khiến các hoạt động trong xã hội phải tự giác tuân thủ theo.
Nó là một quá trình tác động giữa chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý thông qua những biện pháp, phương pháp, phương tiện quản lý nhằm đạt được những kết quả như mong muốn. Như vậy, ta có thể định nghĩa quản lý như sau: “Quản lý là sự huy động, tổ chức và điều hành các nguồn lực nhằm thực hiện một mục tiêu đã SV: Tạ Thu Sa 62 Lớp: QLVH8B Luan van n thac si Công tác quản lý di tích và phát triển du lịch ở đền Ngọc Sơn định trước. Các nguồn lực ở đây bao hàm tất cả những công cụ, phương tiện như chính sách, luật pháp, tài chính, thiết chế, thông tin, cơ sở vật chất, các mối quan hệ, khoa học công nghệ, lao động.2 Khái niệm Di sản văn hoá Di sản là những giá trị văn hoá, lịch sử của các thế hệ trước để lại cho thế hệ sau. Di sản gồm có các di sản vật thể và phi vật thể.
Luật Di sản đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoa X, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29 tháng 6 năm 2001: Di sản văn hoá phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về nghề thủ công truyền thống, tri thức về y dược học cổ truyền, về văn hoá ẩm thực, về trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác. Di sản văn hoá vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia. Di tích lịch sử - văn hoá là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học. Danh lam thắng cảnh là cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị lịch sử thẩm mỹ, khoa học.
Di vật là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học. Cổ vật là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hoá, khoa học, có từ một trăm năm tuổi trở lên. SV: Tạ Thu Sa 63 Lớp: QLVH8B Luan van n thac si Công tác quản lý di tích và phát triển du lịch ở đền Ngọc Sơn Bảo vật quốc gia là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị đặc biệt quý hiếm, tiêu biểu của đất nước về lịch sử, văn hoá, khoa học. Bản sao di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia là sản phẩm được làm giống như bản gốc về hình dnág, kích thước, chất liệu, màu sắc, trang trí và những đặc điểm khác.
Sưu tập là một tập hợp các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia hoặc di sản văn hoá phi vật thể, được thu thập, gìn giữ, sắp xếp có hệ thống theo những dấu hiệu chung về hình thức, nội dung và chất liệu để đáp ứng nhu cầu tìm hiểu lịch sử tự nhiên và xã hội. Theo Công ước về việc bảo vệ di sản văn hoá và tự nhiên thế giới được Hội nghị toàn thể Tổ chức Liên hợp quốc về Giáo dục, Khoa học và Văn hoá thông qua kì họp thứ 17 họp tại Pari, với chữ kí của Chủ tịch Hội nghị toàn thể ngày 23 tháng 11 năm 1972. Theo đó, Điều 1, Di sản văn hoá là: “Di tích: Các công trình kiến trúc, tác phẩm điêu khắc và hội hoạ hoành tráng, các yếu tố hay cấu trúc có tính chất khảo cổ, các văn tự, các hang động và các công trình có sự kết hợp nhiều đặc điểm, có giá trị nổi bật toàn cầu, xét theo quan điểm lịch sử, nghệ thuật hay khoa học”.3 Khái niệm quản lý di sản văn hoá Quản lý di sản văn hoá là quá trình theo dõi, định hướng và điều tiết quá trình tồn tại và phát triển của các di sản văn hoá trên một địa bàn cụ thể nhằm bảo tồn và phát huy tốt nhất giá trị của chúng; đem lại lợi ích to lớn, nhiều mặt, lâu dài cho cộng đồng dân cư chủ nhân của các di sản văn hoá đó.4 Khái niệm du lịch: Từ xa xưa trong lịch sử nhân loại, du lịch đã được ghi nhận như một sở thích, một nhu cầu, một hoạt động nghỉ ngơi tích cực của con người. SV: Tạ Thu Sa 64 Lớp: QLVH8B Luan van n thac si Công tác quản lý di tích và phát triển du lịch ở đền Ngọc Sơn Ngày nay, du lịch được xác định là một ngành kinh tế tổng hợp quan trọng, mang nội dung văn hoá sâu sắc, có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hoá cao.
Phát triển du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng của nhân dân và khách du lịch quốc tế, góp phần nâng cao dân trí, tạo việc làm và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Thuật ngữ du lịch hiện nay được sử dụng phổ biến trên thế giới nhưng vẫn là vấn đề gây tranh cãi và việc nhận thức về nội dung của phạm trù du lịch vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau. Do đó, khái niệm du lịch đến nay vẫn chưa được thống nhất do các nhà lí luận, các nhà nghiên cứu tiếp cận du lịch với nhiều góc độ khác nhau. Năm 1811, định nghĩa về du lịch lần đầu tiên xuất hiện tại nước Anh: “Du lịch là sự phối hợp nhịp nhàng giữa lý thuyết và thực hành của các cuộc hành trình với mục đích giải trí”.
Đến năm 1930, Glusman người Thuỵ Sĩ định nghĩa: “Du lịch là sự chinh phục không gian của những người đến một địa điểm, mà ở đó họ không có chỗ cư trú thường xuyên”. Theo hai học giả Hunziker và Krapf, những người đặt nền móng cho lý thuyết về cung - cầu du lịch đã đưa ra khái niệm: “Du lịch là tập hợp các mối quan hệ và các hiện tượng phát sinh trong các cuộc hành trình và lưu trú của những người ngoài địa phương nếu việc lưu trú đó không phải lưu trú thường xuyên và không dính dáng đến hoạt động kỹ thuật, kinh tế và tổ chức liên quan các cuộc hành trình của con người và việc lưu trú của họ ngoài nơi cư trú thường xuyên với mục đích khác, loại trừ mục đích hành nghề hoặc đến thăm có tính chất thường xuyên”. Qua các định nghĩa trên đây, ta thấy hầu hết các tác giả đều xuất phát từ đặc điểm di chuyển của khách du lịch để đưa ra định nghĩa. Tuy nhiên những định nghĩa đó chưa đi sâu vào bản chất của du lịch để làm sáng rõ nội hàm của nó.
Thực chất du lịch là quá trình du ngoạn của con người theo một lịch trình nhất định để thưởng thức cái đẹp, cái mới lạ không nhằm SV: Tạ Thu Sa 65 Lớp: QLVH8B Luan van n thac si Công tác quản lý di tích và phát triển du lịch ở đền Ngọc Sơn mục đích sinh lợi bằng đồng tiền. Với bản chất như vậy, khái niệm sau đây được coi là tổng thể về du lịch: “Du lịch là quá trình hoạt dộng của con người rời khỏi nơi cư trú thường xuyên đến một nơi khác với mục đích chủ yếu là thẩm nhận những sắc thái văn hoá và cảnh quan thiên nhiên vùng miền khác nơi cư trú thường xuyên. Khái niệm trên đã làm rõ được mục đích cơ bản của các chuyến du lịch là du ngoạn “Sắc thái văn hoá và cảnh quan thiên nhiên” mà không nhằm sinh lợi bằng đồng tiền. Đồng thời khái niệm cũng chỉ ra được “cầu” trong thị trường “cung - cầu” du lịch là nguồn lực chủ yếu để phát triển du lịch, thu hút du khách là văn hoá và cảnh quan thiên nhiên.
Vậy du khách là ai? Du khách hay nói cách khác chính là khách du lịch. Với khái niệm “khách du lịch”, các nhà nghiên cứu cũng có nhiều quan điểm khác nhau. Nhà kinh tế học người áo Jozep Stander đưa định nghĩa: “Khách du lịch là loại khách đi lại theo ý thích ngoài nơi cư trú thường xuyên để thoả mãn nhu cầu sinh hoạt cao cấp mà không theo đuổi mục đích kinh tế”. Theo Odgilvi - nhà kinh tế học người Anh thì: “Khách du lịch là người đến đất nước khác theo nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng nguyên nhân chủ yếu không phải làm thương mại”.
Trong khi đó Tổ chức du lịch thế giới đưa ra khái niệm: Kkhách du lịch là những người lưu trú tạm thời ở nước ngoài và sống tạm thời ở nơi cư trú thường xuyên của họ trong thời gian 24 giờ trở lên”. Dựa trên khái niệm này Luật Du lịch Việt Nam đã đưa ra khái niệm: “Khách du lịch là những người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến”.