Chương 1 Truyện cổ tích và truyện cổ tích Thái Lan1 1. Khái quát đất nước và con người Thái Lan 1. Lược sử hình thành Vương quốc Thái Lan Mặc dù các nhà khoa học đã chứng minh rằng con người xuất hiện ở Thái Lan cách đây hàng ngàn năm nhưng lịch sử của người Thái Lan trên đất Thái được chính thức tính từ khi nhà nước Sukhothay thành lập vào năm 1238. Điều đó chứng tỏ rằng người Thái không phải là cư dân bản địa trên đất Thái Lan.
Trước khi có sự di cư của người Thái, có một tộc người khác đã từng sinh sống rất lâu ở đó. “Các di chỉ được tìm thấy ở Ban Chiang gần Udon Uthani ở Đông Bắc Thái Lan như phần mộ, đồ gốm và các công cụ bằng đồng là bằng chứng đầu tiên chứng minh rằng Thái Lan là một trong những nơi có nền văn minh nông nghiệp trồng lúa và được phát triển xuyên suốt từ thời kỳ đồ đá giữa đến thời kỳ đồ sắt”[dẫn theo 129]. Hiện nay, phần lớn các nhà khoa học đều cho rằng người Mon-Khmer là chủ nhân trên vùng lãnh thổ thời xa xưa của Thái Lan. “Những cư dân này sống chủ yếu dựa vào nền nông nghiệp sơ khai, lấy việc trồng lúa nước làm nghề chính, biết thuần dưỡng trâu bò, làm thủy lợi, chế tác kim khí và thông thạo nghề đi biển” [56, tr.
Nhờ những điều kiện thiên nhiên thuận lợi, người Mon và người Khmer đã xây dựng nên những vương quốc đầu tiên của mình. Vào khoảng đầu công nguyên, nhiều vương quốc của người Mon ra đời, trong đó có thể kể đến là vương quốc Langcaxuaca ra đời vào thế kỉ thứ I, phát triển hưng hịnh vào thề kỉ VI, sau đó tan rã. Tiếp sau đó là vương quốc nhỏ Tambrilinga, Taccola, Pampan, Chitu ,… cũng được hình thành. Từ thế kỉ IX đến thế kỉ XI, vương quốc của người Mon là Dvaravati thống trị ở miền Trung và Tây Thái Lan.
Vương quốc này có sự giao thương buôn bán với bên ngoài, đặc biệt là Ấn Độ. Do đó, văn hóa Ấn Độ có ảnh hưởng to lớn đến đời sống của người dân, đặc biệt về mặt tôn giáo. Phật giáo Tiểu Thừa trở thành tôn giáo thống trị ở đây và cùng tồn tại song song với tín ngưỡng vạn vật hữu linh, Hindu giáo và Phật giáo Đại Thừa, cùng các đạo khác như đạo Sikh, đạo Jain, v. Tuy nhiên, đến năm 1007, Vương quốc này bị đế quốc Angkor của người 1 Vương quốc Thái Lan chính thức là quốc hiệu của quốc gia Thái Lan từ năm 1939.
Tuy nhiên, trong luận văn này , chúng tôi sử dụng “Thái Lan” từ khi hình thành tộc người Thái cho đến nay. 14 Khmer chinh phục. Lúc này đế quốc Angkor là một đế quốc bành trướng về mặt lãnh thổ cũng như về mặt văn hóa. Lãnh thổ của đế quốc Khmer trải dài đến lãnh thổ của Thái Lan ngày nay bao gồm phần Đông Bắc, phần trung tâm và đến tận phía Tây của tỉnh Kanchanaburi.
Ảnh hưởng của đế quốc Khmer vào đất Thái là chế độ cai trị và văn hóa. Cho đến thế kỷ XIII, đế quốc này trở nên yếu ớt và thay vào đó sự thống trị của một vương quốc mới – vương quốc của người Thái. Nói về tộc người Thái, có rất nhiều giả thuyết về nguồn gốc của tộc người Thái nhưng có một giả thuyết được nhiều người thừa nhận rằng vào khoảng thế kỉ X, có một dân tộc từ tỉnh Vân Nam tại phía Nam Trung Hoa đã di chuyển theo các dòng sông, thung lũng xuống phía nam và tỏa ra thành các giống dân: “người Shan còn được gọi là “Thai Yai” (Thái lớn) di chuyển về phía Bắc của Miến Điện, người Ahom Thai định cư tại Assam của Ấn Độ, một nhóm khác tới đất Lào vào, số còn lại đi qua đảo Hải Nam. Nhóm dân đông nhất là “Thai Noi” đã thiết lập cơ sở chung quanh Chieng Saen tại miền Bắc của nước Thái Lan ngày nay” [134].
Tại đây, họ đã xâm nhập vào vùng chỉ thuần người Mon – Khmer ở khu vực sông Chaopraya, hỗn cư và xây dựng nhà nước. Thế kỷ XIII, đánh dấu sự sụp đổ của các vương quốc cổ đại như vương quốc cổ Myanmar (Miến Điện), đế quốc Khmer, bên cạnh đó còn có sự bành trướng của quân Nguyên Mông. Chính điều này làm cho làn sóng di cư của người Thái xuống phần bán đảo phía Nam ngày càng mạnh mẽ hơn. Vào thời kỳ này ra đời một vương quốc hùng mạnh của người Thái, vương quốc Sukhothay sau khi đánh bại đế quốc Khmer.
Có thể nói thời kỳ Sukhothay đánh dấu lịch sử hình thành tộc người Thái trên đất Thái Lan. Nó cũng đánh dấu sự phát triển vượt bậc về mặt văn hóa với sự lãnh đạo tài ba của vua Ramkhamheng. Đó là sự hòa hợp về mặt dân tộc, người Thái tiếp nhận và chuyển hóa các yếu tố văn hóa Mon, Khmer, Myanmar (Miến Điện) để làm giàu cho văn hóa Thái. Thành tựu nổi bật trong thời kỳ này là vua Ramkhamheng đã xây dựng bảng chữ cái của tiếng Thái Lan cổ dựa trên chữ Mon-Khmer.
Lãnh thổ vương quốc Sukhothay được mở rộng "bao gồm lưu vực Sông Menam của người Thái, cao nguyên Korat; trung lưu sông Mekong của người Lào và một phần lãnh thổ phía nam của Miến Điện, và toàn bộ lãnh thổ của người Mã Lai trên bán đảo Malacca" [56, tr. 15 Sau khi Ramkhamheng qua đời, vương quốc Sukhothay bắt đầu tàn lụi và cuối cùng bị sáp nhập vào Ayuthaya, một vương quốc được thành lập vào năm 1350 bởi vua Rama Thibotdi. Trong thời kì lịch sử này, Thái Lan có những chuyển biến mạnh mẽ về kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội. Hai đóng góp quan trọng của vị vua này là đưa Phật giáo trở thành quốc giáo và soạn thảo Bộ Kinh Luật dựa trên nền tảng bộ luật của Ấn Độ và các qui chế xã hội truyền thống của Thái Lan.
Bộ Luật này được sử dụng đến tận thế kỉ XIX. Ayuthaya trở nên phồn thịnh bắt đầu vào thời kì vua Naresuan (1584-1605) và kéo dài đến cuối thế kỉ XVII. Vào khoảng đầu thế kỉ XVIII đất nước Thái Lan rơi vào khủng hoảng, nạn đói, hạn hán hoành hành dữ dội, nông dân bỏ ruộng đi kiếm ăn. Lợi dụng tình thế đó, vua Miến Điện kéo vào xâm lược.
Chịu hai đợt tấn công của quân Myanmar (Miến Điện), cuối cùng Thái Lan rơi vào ách thống trị của quân Myanmar (Miến Điện) năm 1767. Dưới sự lãnh đạo của Taksin nền độc lập của Thái Lan được khôi phục vào năm 1768. Taksin lên ngôi vua, tiêu diệt các tập đoàn phong kiến cát cứ và thống nhất đất nước. Đến năm 1782, Chao Phya Chakri được tôn làm vua lấy niên hiệu là Rama I.
Ông là người khai sinh vương triều Chakri còn tồn tại đến ngày nay. Rama I dời đô về Bangkok và cho xây dựng thành phố theo kiểu mẫu Authaya và củng cố theo hướng tập trung quyền lực. Trước sự bành trướng của Chủ nghĩa thực dân phương Tây, Thái Lan cũng như nhiều nước Đông Nam Á thực hiện chính sách đóng cửa không giao lưu với bên ngoài. Đến năm 1881, vua Mongkut (Rama IV lên ngôi) chủ động mở cửa giao lưu với thế giới, mặc dù phải ký nhiều hiệp ước bất bình đẳng với các nước.
Trước hết là Anh. Tiếp đến là Mỹ, Pháp, Đan Mạch, Bồ Đào Nha, Hà Lan, …Thái Lan đã mở toang cánh cửa cho các nước phương Tây đến để giao thương buôn bán, đặt lãnh sự, hưởng các đặc quyền đặc lợi về kinh tế. Chính cách ứng xử mềm dẻo và ngoại giao khôn khéo của giai cấp thống trị đã đưa nước Thái Lan thoát khỏi thân phận thuộc địa và tiến hành canh tân đất nước bảo vệ chủ quyền độc lập dân tộc, đưa nước Thái Lan bước vào quỹ đạo của Chủ nghĩa tư bản thế giới. Người có công đặt nền móng cho công cuộc cải cách là vua Rama IV, còn vua Rama V là nhà canh tân đất nước, là vị vua vĩ đại trong lịch sử Vương quốc Thái Lan.
Sau cải cách, nhà nước Thái Lan về mặt hình thức là nhà nước quân chủ lập hiến nhưng thực chất là nhà nước quân chủ chuyên chế khoác áo nghị viện, mọi quyền hành vẫn tập trung vào tay vua, những 16 quyền lợi to lớn của tầng lớp quý tộc dòng dõi vẫn tiếp tục duy trì vì người tham gia bộ máy chính quyền đều là những người thuộc dòng dõi quý tộc, nhiều người trong số đó đã từng được đi du học ở Châu Âu. Trong lĩnh vực tôn giáo, khẳng định vị trí quốc giáo của Phật giáo. Phật giáo trở thành ngọn cờ tư tưởng cố kết nhân dân Thái Lan, giúp vua Thái Lan trị nước an dân có hiệu quả, đưa nước Thái Lan hội nhập thế giới văn minh nhưng vẫn giữ được bản sắc của riêng mình. Đến thời kỳ vua RamaVII (1925-1935), Thái Lan rơi vào tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng.
Vua buộc phải cắt giảm ngân sách chi tiêu của nhà nước gây nhiều bất mãn trong xã hội. Điều này dẫn đến cuộc cách mạng 1932 và cũng chính từ đây nền chính trị của Thái Lan chuyển từ quân chủ chuyên chế sang quân chủ lập hiến, và đến năm 1939 đổi tên nước Siam thành Muang Thay (nước Thái). Cho đến ngày nay, nước Thái đã trải qua chín triều vua.1: Bản đồ đất nước Thái Lan 17 1. Điều kiện tự nhiên Thái Lan là một quốc gia nằm giữa vùng Đông Nam Á lục địa, có tổng diện tích 513.115 km2, phía Bắc và phía Tây giáp Myanmar (Miến Điện), phía Đông Bắc giáp Lào, phía Đông Nam giáp Campuchia và vịnh Thái Lan, phía Nam giáp Malaysia, và phía Tây Nam giáp biển Andaman.
Địa hình Nhìn chung, Lãnh thổ Thái Lan được chia thành bốn miền chính là miền Bắc, miền Đông Bắc, miền Trung và miền Nam. Miền Bắc: Đây là vùng đồi núi nối tiếp cao nguyên Vân Nam gồm có 17 tỉnh với diện tích khoảng 150. Đỉnh núi cao nhất miền Bắc là Doi Inthanon (2595m). Hệ thống núi và thung lũng ở đây nằm song song nhau chạy từ Bắc xuống Nam.
Miền Bắc có bốn con sông chính là sông Nan, sông Ping, sông Wang và sông Yorm. Thành phố lớn nhất vùng là ChiengMai cách thủ đô Bangkok khoảng 700km về phía Bắc. Miền Đông Bắc: Miền Đông Bắc gồm 19 tỉnh với tổng diện tích là 182. Đây là vùng cao nguyên Korat có độ cao từ 120-210m so với mặt nước biển.
Đây là miền đất khô cằn, bạc màu không thuận lợi cho trồng trọt, cả miền chỉ có một con sông duy nhất là sông Nam Mun. Tuy nhiên đây là vùng chăn nuôi trâu bò cung cấp sức kéo cho cả nước. Miền Trung: Miền Trung Thái Lan rộng khoảng 100.000km2 chạy dài từ Uttaradit ở phía Bắc đến bờ biển vịnh Thái Lan, bao gồm 26 tỉnh.