Chương 1 CƠ SỞ XUẤT HIỆN CÁC HOẠT ĐỘNG KHAI MỎ CỦA NGƯỜI HOA Ở CÁC TỈNH MIỀN NÚI PHÍA BẮC VIỆT NAM TỪ CUỐI THẾ KỶ XVII ĐẾN GIỮA THẾ KỶ XIX 1. Điều kiện địa lý tự nhiên và nguồn tài nguyên khoáng sản ở các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam Khai thác mỏ, hay khai mỏ, là hoạt động khai thác khoáng sản hoặc các vật liệu địa chất từ lòng đất, thường là các thân quặng, mạch hoặc vỉa than. Các vật liệu được khai thác từ mỏ như kim loại cơ bản, kim loại quý, sắt, urani, than, kim cương, đá vôi, đá phiến dầu, đá muối và kali cacbonat. Bất kỳ vật liệu nào không phải từ trồng trọt hoặc được tạo ra trong phòng thí nghiệm hoặc nhà máy đều được khai thác từ mỏ.
Khai thác mỏ ở nghĩa rộng hơn bao gồm việc khai thác các nguồn tài nguyên không tái tạo như dầu mỏ, khí thiên nhiên, nước. Công nghệ khai thác chủ yếu gồm hai nhóm là khai thác mỏ lộ thiên và khai thác hầm lò. Đối tượng khai thác cũng được chia thành hai nhóm tùy theo loại vật liệu: sa khoáng bao gồm các khoáng vật có giá trị nằm lẫn trong cuội lòng sông, cát bãi biển và các vật liệu bở rời khác; và quặng mạch hay còn gọi là quặng trong đá gốc, ở đây các khoáng vật có giá trị được tìm thấy trong các mạch, các lớp hoặc các hạt khoáng vật phân bố rãi rác trong khối đá. Cả hai loại này đều có thể khai thác theo phương pháp lộ thiên và hầm lò.
Về lịch sử nghề khai thác mỏ trên thế giới, đa số các nhà sử học cho rằng, khoảng bốn vạn năm trước công nguyên, con người đã biết sử dụng mọi thứ xung quanh mình, kể cả đá cũng được dùng làm công cụ khai thác các khoáng sản. Sau một thời gian sử dụng hết những đá tốt trên bề mặt trái đất, con người bắt đầu đào bới để tìm những thứ họ cần. Những mỏ đầu tiên chỉ là những cái hố nông nhưng rồi những người khai mỏ sau buộc phải đào sâu thêm để tìm kiếm. Từ khi bắt đầu thời kỳ văn minh con người đã sử dụng đá, gốm và sau đó là kim loại được tìm thấy trên bề mặt Trái Đất.
Trên thế giới, người Ai Cập cổ đại được xem như những người biết nghề khai thác mỏ sớm nhất. Khai thác mỏ ở Ai Cập xuất hiện từ các triều đại sớm nhất, và các mỏ vàng nằm trong số những mỏ lớn nhất và rộng nhất vào thời Ai Cập cổ đại. Những người thợ mỏ tiến hành nghiền quặng thành bột trước khi đải chúng để lấy vàng cám. Ở châu Âu, nghề khai thác mỏ trong thời kỳ Trung Cổ được biết đến nhiều nhất từ công trình De Re Metallica (1556) của Georg 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Agricola, ông đã miêu tả một số phương pháp khai thác mỏ khác nhau, sau này được sử dụng trong các mỏ ở Đức và Saxon.
Sử dụng năng lượng nước một dạng của cối xay nước được cải tiến; họ tạo ra quặng được nghiền nhỏ, đưa quặng lên từ hầm mỏ và thông gió trong mỏ bằng các ống thổi công suất lớn. Sang thế kỷ XVI – XVIII, vàng và bạc tự nhiên được khai ở châu Mỹ và được chuyển đến châu Âu. Ở Mỹ, khai thác mỏ rất phát triển vào thế kỷ XIX. Với cơn sốt vàng California vào giữa thập niên 1800, khai thác mỏ khoáng sản và kim loại quý cùng với nông trại, là một yếu tố tác động vào sự mở rộng về phía Tây đến bờ biển Thái Bình Dương.
Nhiều người di dân châu Âu di chuyển dần về phía Tây nước Mỹ để tìm kiếm cơ hội làm việc trong ngành khai thác mỏ. Các nhà khảo cổ học đã phát hiện dấu tích nhiều mỏ đồng được khai thác vào thời tiền sử và thời cổ đại dọc theo hồ Superior ở Bắc Mỹ, Những mỏ này có niên đại ít nhất cách đây 5000. Đồng được được buôn bán trên khắp châu Mỹ dọc theo các tuyến đường thủy. Ở Trung Quốc, nghề khai thác mỏ đồng đã được biết đến ít nhất cách đây gần 5.
Các cổ vật từ đồng đỏ đã được phát hiện tại khu vực khảo cổ của nền văn hóa Mã Gia Diêu (3100 TCN tới 2700 TCN) tại Trung Quốc. Trong thời kỳ nhà Hạ, vào khoảng năm 2100 TCN, nghề khai mỏ đồng đã tương đối phổ biến. Thời kỳ nhà Thương, người dân đã biết dùng đồng đỏ để làm các bình, chai, lọ từ đồng đỏ cho các lễ nghi cũng như các công cụ nông nghiệp và vũ khí. Từ thời kỳ Ân, Thương, ở Trung Quốc đã bắt đầu sản xuất được một số lượng rất lớn các vật dụng bằng đồng.
Đồ đồng khi ấy đã có được tạo hình đẹp và đa dạng, cho thấy kỹ thuật đúc đồng của Trung Quốc đã khá phát triển. Kỹ thuật đúc đồ sắt ở Trung Quốc cũng có lịch sử rất lâu đời, khoảng giữa thời kỳ Xuân Thu, Trung Quốc phát minh kỹ thuật luyện sắt và nửa sau thời kỳ Xuân Thu đã xuất hiện các vật dụng bằng sắt. Đến thời Chiến Quốc, Tần, Hán thì kỹ thuật luyện thép đã có những thành tựu khá cao. Người Trung Quốc trong quá trình luyện kim đã tích luỹ được rất nhiều kiến thức về hoá học và sáng tạo ra rất nhiều phương pháp luyện kim, khai khoáng.
Tại Việt Nam, các mỏ kim loại quý như mỏ vàng, mỏ bạc, mỏ đồng, mỏ sắt, mỏ thiếc, mỏ chì, v.v… được người Trung Quốc và Nhà nước quân chủ Việt Nam quan tâm và cho phép khai thác từ rất sớm. Các cổ vật đồng đỏ ở Việt Nam đã được phát hiện có niên đại vào khoảng năm 2100 năm TCN, điều này cho thấy nghề khai khoáng luyện kim của Việt Nam xuất hiện rất sớm với trình độ kỹ thuật và chuyên môn hóa cao – ngay từ thời đại Hùng Vương [76, tr. Vì vậy, khai mỏ và thuật luyện kim được xem là một trong những nghề quan trọng và có lịch sử 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com lâu đời ở nước ta. Với cấu tạo địa chất đa dạng, miền Bắc Việt Nam có nhiều tài nguyên khoáng sản.
Kể từ khi xã hội bắt đầu bước vào thời đại kim khí, người dân đã biết đến thuật luyện kim khí và khai thác mỏ. Nhiều mỏ đồng, mỏ sắt, vằng, bạc… đã cung cấp những kim loại rất cần thiết để chế tạo công cụ sản suất, đúc tiền, đồ dung sinh hoạt, đồ trang sức, vũ khí…. Những tiến bộ về ngành gốm đã đặt cơ sở cho một nền luyện kim để người Việt bước sang thời đại đồ đồng thau, bằng việc sản xuất ra các lò luyện kim và khuôn đúc từ sắt chịu lửa. Thời kỳ tiền Hùng Vương thì người Lạc Việt đã bước dần sang thời kỳ đồ đồng.
Trong các di chỉ tìm được ở Phùng Nguyên (Vĩnh Phú cũ), Quỳnh Đại (Quảng Bình) hay ở một số hang thuộc Vịnh Hạ Long (Quảng Ninh) người ta đã tìm thấy các mảnh dao làm bằng đồng, xỉ đồng. Sang thời kỳ cổ trung đại, khi xã hội đã có sự phân công giai cấp, nên thời kỳ này có lẽ hình thành những tập đoàn chuyên môn khai thác mỏ, luyện kim và chế tạo các công cụ cho xã hội. Văn hóa Đông Sơn để lại nhiều dụng cụ đồng thau trong đó nổi bật là trống đồng. Lúc này người ta đã biết khai thác các loại quặng đồng, thiếc, chì để luyện thành hợp kim có độ cứng hơn đồng.
Dụng cụ đồng thau ở thời kỳ này gặp được khá nhiều và phổ biến, chứng tỏ số lượng và chủng loại quặng được khai thác cũng nhiều và đa dạng hơn. Các mỏ đồng, chì gặp được ở nhiều nơi, nhất là đồng tự sinh có thể khai thác được dưới dạng sa khoáng trong các trầm tích sông suối chảy qua vùng có đá phun tràn bazơ thuộc các giải trong lưu vực sông Đà, Thanh Hóa, Hòa Bình, Sơn Tây, Cao Bằng, Sơn La… [102, tr. Thời kỳ các nhà nước sơ khai như Văn Lang (thế kỷ VII trCN - 257 trCN) và nhà nước Âu Lạc (257 trCN - 208 trCN) tồn tại cùng thời điểm với một số nhà nước sơ khai khác ra đời ở khu vực phía Nam sông Dương Tử. Một số nhà khảo cổ học Việt Nam và Trung Quốc dã khẳng định ngay từ thời kỳ này đã có sự giao lưu cả về kinh tế và văn hóa, không chỉ giữa các tộc người Bách Việt với nhau mà còn với cả Trung Nguyên, Trung Quốc [117, tr.
Nước Điền, một trong những nhà nước sơ khai ở miền Tây Nam Trung Quốc do Trang Kiều lập nên vào thời Sở Khoảnh Tương Vương (246 trCN) và tan vỡ trước khi nhà Tây Hán xâm lược Việt Nam 2 năm (111 trCN), đã có mối giao lưu văn hóa với Văn Lang - Âu Lạc theo con đường hành lang sông Hồng. Mà nền tảng của văn hóa nước Điền chính là nền văn hóa vật chất mà tiêu biểu là địa điểm khảo cổ Thạch Trại Sơn, ven hồ Điền, ngoại thành Côn Minh, tỉnh Vân Nam. Khảo cổ học Việt Nam đã dẫn theo khảo cổ học Trung Quốc mà cho rằng nền văn minh của nước Điền được bắt nguồn từ những văn hóa bản địa 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trước đó, lấy luyện kim đồng thau làm động lực phát triển [117, tr. Trong “The bronze culture of Western Yunnan”, Bulletin of the Ancient orient Museum, Vol.
VII, Tokyo: 67, tác giả Kan Yon cho biết rằng luyện kim sớm nhất ở vùng Vân Nam có bằng chứng là các hiện vật bằng đồng được tìm thấy trong tầng văn hóa di chỉ Hải Môn Khẩu, huyện Kiếm Xuyên, có niên đại cách ngày nay khoảng trên 3000 năm, tức vào khoảng cuối đời Thương đầu thời Tây Chu [117, tr. Trong khi đó đồ đồng sớm của miền Bắc Việt Nam, cụ thể là văn hóa Phùng Nguyên, được xác định cách nay trên 3400 năm. Vậy niên đại của văn hóa Phùng Nguyên ít ra cũng vào khoảng giữa thời Thương, cũng có nghĩa là dọc sông Hồng vào khoảng nửa cuối thiên niên kỷ thứ hai trước công nguyên, vùng hạ lưu Bắc Bộ Việt Nam lại có đồ đồng sớm hơn vùng thượng lưu Vân Nam. Vậy có thể cho rằng cư dân Việt cổ thời kỳ văn hóa Phùng Nguyên biết đến luyện kim vào khoảng thế kỷ 14 – 15 trước CN.
Nhiều bằng chứng khảo cổ học cho thấy đã có nhiều mối liên hệ giữa khu vực Vân Nam – Quảng Tây (miền tây nam và đông nam Trung Quốc) với khu vực miền Bắc Việt Nam trong giai đoạn hình thành các nhà nước sơ khai.