MỞ ĐẦU 1.1 Tổng quan về đề tài Hệ thống phanh là một trong những hệ thống cơ bản quan trọng nhất trên ô tô. Hệ thống phanh có công dụng giảm tốc độ của ô tô đến một giá trị cần thiết hoặc dừng hẳn và giữ cho ô tô dừng khi đỗ trên các đường dốc. Nếu không có hệ thống phanh, chúng ta không thể can thiệp ngay lập tức để kiểm soát tốc độ xe của mình theo ý muốn, do đó nó là một hệ thống rất quan trọng trên ô tô. Với sự phát triển liên tục của công nghệ và yêu cần đồi hỏi nâng cao cải tiến mức độ an toàn trên xe của khách hàng, các hãng sản xuất xe ôtô trên thế giới đã và đang cải tiến, nâng cao mức độ an toàn của xe, do đó việc ôtô ngày càng an toàn, tiện dụng, cho phép lái xe điều chỉnh được tốc độ chuyển động hoặc dừng xe theo ý muốn của người lại.
Với tư cách là người luôn đi đầu trong việc nghiên cứu và phát triển công nghệ mới giúp cải thiện tính an toàn và tiện dụng trên xe, vào năm 2010 Mercedes-benz đã ra mắt gói trang bị công nghệ an toàn chủ động Driving safety systems trên model W204 bao gồm bốn công nghệ bảo vệ chính là ABS (Antilock Brake System), BAS (Brake Assist System), EBP (Electronic Brake Proportioning), ESP® (Electronic Stability Program) được tích hợp tạo thành Adaptive Brake. Adaptive Brake là hệ thống quan trọng nhằm hỗ trợ người dùng tránh các tai nạn đáng tiếc bằng cách can thiệp trực tiếp vào quá trình hoạt động của hệ thống ABS và ESP để kiểm soát quá trình và áp lực tác dụng lên phanh của xe đề duy trì tính an toàn và ổn định của xe. Vì vậy, bài luận văn nhằm mục đích nghiên cứu về nguyên lý hoạt động của các thành phần chính trên hệ thống phanh được tích hợp các công nghệ trên nhằm cho người đọc một cái nhìn tổng quan về hệ thống an toàn chủ động của xe Mercede-benz C200(W204): Adaptive brake system (ABR) tích hợp hai công nghệ an toàn chính là ESP® (Electronic Stability Program) và là ABS (Antilock Brake System). Qua đó phân tích đưa ra những kinh nghiệm về cách khai thác và sử dụng các công nghệ an toàn chủ động trên hệ thống phanh, nêu lên những lưu ý cần thiết khi tháo tác với hệ thống phanh.
Giúp cho người lái nắm rõ các quy trình kĩ thuật bảo dưỡng hệ thống phanh theo hướng dẫn của của nhà sản suất Trang 1 Luận văn tốt nghiệp SVTH: Nguyễn Tấn Quý CHƯƠNG 2 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ XE 2. Giới thiệu chung về xe MERCEDES C200 KOMPRESSOR Mercedes-Benz C-Class là một trong những sản phẩm được ưa chuộng nhất của hãng xe Đức trên toàn cầu, trong đó Mercedes C200 đóng vai trò quan trọng nhất trong doanh số bán hàng. Với thiết kế trẻ trung, động cơ mạnh mẽ, giá cả hợp lý và tính an toàn cao, Mercedes C200 đã trở thành lựa chọn hàng đầu của giới doanh nhân. Không chỉ thế, sự sang trọng và đẳng cấp của chiếc xe này còn được đánh giá rất cao.
Được giới thiệu lần đầu vào năm 1993, Mercedes C200 đã thay thế cho mẫu xe tiền nhiệm Mercedes-Benz 190E (W201) trong phân khúc xe hạng sang cỡ vừa (entry-level). Với sự ra đời của chiếc xe sedan này, Mercedes-Benz đã mở ra một chuỗi sản phẩm gồm C-Class, E-Class và đầu bảng là S-Class, đánh dấu sự xuất hiện của các dòng xe sedan trong gia đình Mercedes-Benz. Trên toàn cầu, Mercedes-Benz C-Class đã được phát triển qua 4 thế hệ khác nhau. Thế hệ đầu tiên được đánh số W202 và sản xuất từ năm 1993 đến năm 2000.
Thế hệ thứ hai mang mã W203 và được sản xuất từ năm 2000 đến năm 2007. Thế hệ thứ ba có mã W204 và được sản xuất từ năm 2007 đến năm 2014. Thế hệ hiện tại có mã W205 và được giới thiệu từ năm 2014 và vẫn đang được sản xuất đến ngày nay. Tại thị trường Việt Nam, Mercedes-Benz C-Class đã có sự hiện diện đầy đủ cả bốn thế hệ kể từ khi hãng xe Đức chính thức đặt trụ sở tại đây cách đây 23 năm.
Từ khi thế hệ đầu tiên ra mắt vào năm 1999, Mercedes-Benz C200 Kompressor đã được lắp ráp và phân phối tại Việt Nam. Mercedes C200 đã trải qua cả bốn thế hệ và trở thành phiên bản tiêu chuẩn với giá bán cân bằng trang bị, đồng thời có sức mua tốt nhất trong các phiên bản của dòng xe. Ngoài phiên bản tiêu chuẩn Elegance, Mercedes C200 cũng có các phiên bản Advangarde, Sport và hiện tại là Exclusive. Với ưu thế lắp ráp trong nước, Mercedes-Benz C200 là một trong những phiên bản có giá bán thấp nhất của dòng xe C-Class và cũng là một trong những sản phẩm hạng sang cỡ nhỏ có giá thấp nhất tại thị trường Việt Nam.
Trang 2 Luận văn tốt nghiệp SVTH: Nguyễn Tấn Quý 2.2 Các hệ thống chính trên xe 2.1 Động cơ Mercedes C200 Kompressor sở hữu động cơ M271950 Năm sản xuất Mẫu xe 2007-2013 W204 C200 Kompressor Mã sản suất M271.8) Dòng động cơ M271 Nhiên liệu xăng Dung tích 1 796 ccm (110 cui) Công suất 135 kW (184 PS) @ 5500 Mô men xoắn 250 Nm (184 ft/lb) @ 2800 Năm sản xuất 2006 Kiểu cấp nhiên nhiên liệu Multi-point fuel injection (MPFI) Kiểu tăng áp Supercharger Kiểu trục cam Trục cam kép (DOHC) Số xylanh 4 xylanh xếp thẳng hàng Trang 3 Luận văn tốt nghiệp SVTH: Nguyễn Tấn Quý Số van nạp xả 16 van Tỷ số nén 8.5 : 1 Đường kính x hành trình piston 82 x 85 mm Vào năm 2004, Daimler giới thiệu loại động cơ mới (M271 KE) với các phát triển công nghệ vượt bậc vào thời điểm đó. Động cơ mới được tạo dựng từ tiêu chuẩn cao trong việc nghiên cứu, phát triển liên quan đến việc tiêu thụ nhiên liệu, nâng cao moomen xoắn và công suất động cơ nhưng có trọng lượng nhẹ và hoạt động êm ái. Với động cơ này, Daimler cam kết khách hàng sẽ có một cái nhìn hoàn toàn khác về động cơ có dung tích 1796 cm3: lợi ích mang lại cho khách hàng là rõ rệt thông qua việc vận hành êm ái, nâng cao được momen xoắn và phát triển công suất và nhờ đó cảm giác lái được đảm bảo tối ưu. Động cơ M271 được giới thiệu với 3 loại công suất: - 105kW/143hp trên xe C180 Kompressor - 135kW/181hp trên xe C200 Kompressor - 141kW/192hp trên xe C230 Kompressor Cả ba động cơ trên đều được chế tạo dưới thuật ngữ TWINPULSE, có ảnh hưởng quan trọng trong công nghệ chế tạo các hệ thống liên quan: Tăng áp suất khí nạp (Compressor charging), làm mát khí nạp (charge air cooling), công nghệ 4 xupap (4 valve technology), trục cam điều chỉnh liên tục (variable adjustable camshafts), điều khiển lái thích ứng (driver-adaotive control).
Một số công nghệ được áp dụng trong các chi tiết động cơ: - Block máy được đúc bằng hợp kim nhôm - Công nghệ chế tạo thanh truyền (eye cracking) Trang 4 Luận văn tốt nghiệp SVTH: Nguyễn Tấn Quý - Trục cân bằng Lanchester với bơm dầu tích hợp - Trục cam điều chỉnh thời điểm đóng liên tục nhờ bộ xoay trục cam và các cảm biến vị trí trục cam : giảm tiêu hao nhiên liệu, giảm chất độc hại trong khí thải nhờ bộ phun gió thứ cấp và bộ hồi lưu khí xả, tăng momen xoắn khi đủ tải Điểm nổi bật của động cơ M271 đó chính là Kompressor (Compressor). Đây chính là bộ siêu nạp ( super charger ), được dẫn động trực tiếp bằng trục cơ có tác dụng tăng áp suất khi nạp vào xylanh, tức là xylanh sẽ nạp được nhiều khí hơn, đốt cháy tối đa được lượng nhiên liệu được phun vào đường nạp và do đó tăng được công suất động cơ mà không phải tăng thể tích xylanh. Động cơ M271 của Mercedes là động cơ xăng kiểu mới 4 kỳ, 4 xi lanh thẳng hàng ,dung tích xi lanh 1,8 lít trục cam kép DOHC 16 xupáp dẫn động bằng xích , bộ căng xích có lò xo điều chỉnh theo áp suất dầu bôi trơn , thứ tự làm việc của các vi lanh 1-3-4-2. Đây là loại động cơ tạo hỗn hợp bên ngoài và đốt cháy hỗn hợp cưỡng bức.
Động cơ sử dụng cơ cấu phối khí dạng xu páp treo, hệ thống làm mát bằng nước kiểu tuần hoàn cưỡng bức Động cơ có công suất 105 kW tại tốc độ 5200v/ph có hệ thống đánh lửa trực tiếp bằng điện tử và hệ thống phun nhiên liêu được phun trực tiếp điều khiển bởi ECU .Động cơ M271 có hệ thống cam kép (DOHC) gồm 4 xupáp cho mỗi xilanh hai xupáp nạp và hai xupáp thải .2 Hệ thống làm mát động cơ Hệ thống làm mát của động cơ có nhiệm vụ duy trì trạng thái nhiệt độ ổn định trong giới hạn cho phép của các chi tiết và đảm bảo hiệu suất cao nhất Động cơ M271 sử dụng hệ thống làm mát kiểu kín lưu thông tuần hoàn cưỡng bức nhờ bơm nước. Hệ thống làm mát sử dụng nước sạch có pha chất phụ gia chống đông, chống gỉ. Nước từ két làm mát và bộ sưởi qua van hằng nhiệt vào bơm nước. Sau đó nước vào thân máy, áo nước quanh xi lanh, lên nắp máy làm mát cho các chi tiết quanh buồng cháy rồi ra ngoài vào lại két làm mát và bộ sưởi tạo thành vòng tuần hoàn kín.
Từ nắp máy có đường nước đưa nước làm mát lên chế hoà khí, sau đó về bơm nước qua van hằng nhiệt. Trang 5 Luận văn tốt nghiệp SVTH: Nguyễn Tấn Quý Để động cơ làm việc bình thường, nhiệt độ của nước làm mát khi vào áo nước cần nằm trong khoảng 70¸75 độ C và khi ra khỏi động cơ nằm trong khoảng 80¸85 độ C. Hệ thống làm mát bao gồm các bộ phận cơ bản như: két nước, bơm nước, van hằng nhiệt, lớp áo nước trong thân máy và nắp máy, các đường dẫn nước, két sưởi .3 Hệ thống bôi trơn động cơ Trong khi động cơ hoạt động , các bề mặt tiếp xúc của các chi tiết của động cơ như piston , xylanh , bạc đỡ trục , ổ lăn , cam , bánh răng chịu ma sát rất lớn và bị mài mòn liên tục. Hơn nữa , ma sát giữa các bề mặt tiếp xúc làm tổn hao công suất của động cơ.
Do đó việc bôi trơn các bề mặt làm việc là một yêu cầu tất yếu đối với tất cả các loại động cơ đốt trong .