CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Khái niệm và phân loại của tài nguyên khoáng sản Khái niệm Tài nguyên khoáng sản: là tích tụ vật chất dưới dạng hợp chất hoặc đơn chất trong vỏ trái đất, mà ở điều kiện hiện tại con người có đủ khả năng lấy ra các nguyên tố có ích hoặc sử dụng trực tiếp chúng trong đời sống hàng ngày. Phân loại Theo dạng tồn tại: Khoáng sản có thể tồn tại ở 3 dạng : Rắn ( các loại quặng kim loại, vật liệu xây dựng.), Khí (khí đốt, He.) và Lỏng (dầu mỏ, nước khoáng, Hg. Theo nguồn gốc: Nội sinh (sinh ra từ trong lòng Trái Đất, Ngoại sinh ( sinh ra ở trên bề mặt Trái Đất). Theo thành phần hóa học : Khoáng sản kim loại ( kim loại đen, kim loại màu, kim loại quý hiếm), Khoáng sản năng lượng (than đá, dầu mỏ, khí đốt) và Khoáng sản phi kim loại( vật liệu khoáng, vật liệu xây dựng).2 Vai trò của tài nguyên khoáng sản Khoáng sản có vai trò thúc đẩy nền kinh tế phát triển thông qua việc cung cấp nguyên, nhiên liệu cho các ngành sản xuất kinh tế Đối với công nghiệp : khoáng sản là nguồn cung cấp nguyên nhiên liệu cho nhiều ngành công nghiệp như luyện kim, hóa chất, cơ khí.
và là cơ sở vật chất của những tiến bộ về khoa học kĩ thuật. Đồng thời, sự phong phú và đa dạng của các loại khoáng sản đã tạo cho nước ta có điều kiện để phát triển một nền công nghiệp có cơ cấu ngành đa dạng. Không những thế, với sự phân bố theo vùng đã tạo điều kiện thuận lợi trong việc hình thành, phát triển các trung tâm công nghiệp, vùng công nghiệp với trình độ chuyên môn hóa ngày càng cao. Đối với ngành nông nghiệp: khoáng sản là nguồn cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp sản xuất phân bón, thuốc trừ sâu tạo điều kiện để nước ta đẩy mạnh điện khí SVTH: Hồ Đắc Quyền_ Lớp K45KT TNMT 5 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆPGVHD: Th.S Tôn Nữ Hải Âu hóa, cơ khí hóa.
trong nông nghiệp. Nhờ đó mà năng xuất nền nông nghiệp không ngừng tăng lên, trình độ sản xuất nâng cao. Đối với ngành giao thông vận tải: khoảng sản là nguồn cung cấp vật liệu xây dựng cầu đường, bến cảng. Đối với thương mại: khoáng sản là nguồn cung cấp nhiều mặt hàng xuất khẩu có giá trị cao, đem lại nguồn ngoại tệ lớn, kích thích mở rộng thị trường, thu hút đầu tư.
Ngoài ra, đối vơí nền kinh tế nhờ có nguồn thu từ khoáng sản mà nước ta có thể tích lủy được một số vốn lớn để đầu tư phát triển các ngành kinh tế còn lại, thúc đẩy quá trình CNH-HĐH đất nước, vừa góp phần tạo sự chuyển dịch trong cơ cấu ngành và cơ cấu lãnh thổ. Khoáng sản nước ta là nguồn cung cấp mặt hàng xuất khẩu có giá trị cao Nguồn khoáng sản đa dạng, phong phú tạo điều kiện cho nước ta khai thác chế biến phục vụ cho sản xuất trong nước, đồng thời xuất khẩu ra nước ngoài thu ngoại tệ. Nhờ đó nước ta có thể tích lũy vốn đầu tư, phát triển các ngành kinh tế thúc đẩy quá trình CNH-HĐH đất nước, vừa góp phần tạo sự chuyển dịch cơ cấu ngành và cơ cấu lãnh thổ kinh tế. Khoáng sản là nhân tố có khả năng tạo vùng, do đó thúc đẩy sự phân công lao động theo lãnh thổ Khoáng sản là cơ sở hình thành các trung tâm công nghiệp, vùng công nghiệp, do đó sự phân bố khoáng sản sẽ ảnh hưởng tới sự phân bố các trung tâm công nghiệp, vùng công nghiệp.
Điều này dẫn tới sự phân bố lao động việc làm .theo lãnh thổ, thúc đẩy quá trình đô thị hóa. Khoáng sản góp phần giải quyết nhiều vấn đề xã hội Có khả năng tạo việc làm cho người dân, tình trạng thất nghiệp đang là vấn đề khó khăn của nước ta, nâng cao đời sống người dân. Đặc biệt, đối với các vùng miền núi, khoáng sản góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội ở đây, giảm khoảng cách chênh lệch với các miền trong nước. Ngoài ra, thông qua hoạt động xuất khẩu khoáng sản nước ta đặc nhiều quan hệ hợp tác với các nước, thực hiện đường lối đối ngoại của đất nước.
SVTH: Hồ Đắc Quyền_ Lớp K45KT TNMT 6 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆPGVHD: Th.S Tôn Nữ Hải Âu Qua đó, ta thấy được vai trò quan trọng của tài nguyên khoáng sản đối với nước ta. Đây là nguồn lực quan trọng để phát triển kinh tế xã hội. Song để thấy rõ hơn những ý nghĩa đặc biệt này, chúng ta cần phân tích những đặc điểm của tài nguyên khoáng sản nước ta để minh chứng cho những điều này.3 Hoạt động khoáng sản và quản lí hoạt động khoáng sản 1.1 Hoạt động khoáng sản Theo điều 2 “Luật Khoáng Sản” năm 2010 quy định thì hoạt động khoáng sản bao gồm: hoạt động thăm dò khoáng sản, hoạt động khai thác khoáng sản. Thăm dò khoáng sản là hoạt động nhằm xác định trữ lượng, chất lượng khoáng sản và các thông tin khác phục vụ khai thác khoáng sản.
Khai thác khoáng sản là hoạt động nhằm thu hồi khoáng sản, bao gồm xây dựng cơ bản mỏ, khai đào, phân loại, làm giàu và các hoạt động khác có liên quan. Đó là việc khai thác các vật liệu địa chất từ lòng đất, thường là các thân quặng, mạch, hoặc vìa than. Các vật liệu được khai thác từ mỏ khoáng sản như kim loại cơ bản, kim loại quý, sắt, urani, than, kim cương, đá vôi, đá phiến dầu, đá muối và cacbonat. Khai thác khoáng sản theo nghĩa rộng hơn bao gồm việc khai thác các nguồn tài nguyên không tái tạo ( như dầu mỏ, khí thiên nhiên hoặc thậm chí là nước).2 Quản lí nhà nước về hoạt động khoáng sản Quản lí hoạt động khoáng sản ở nước ta “Theo Điều 3 Luật khoáng sản năm 2010” có quy định: 1.Nhà nước có chiến lược, quy hoạch khoáng sản để phát triển bền vững kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh trong từng thời kỳ.
Nhà nước bảo đảm khoáng sản được bảo vệ, khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm và hiệu quả. Nhà nước đầu tư và tổ chức thực hiện điều tra cơ bản địa chất về khoáng sản theo chiến lược, quy hoạch khoáng sản, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, nghiên cứu khoa học, ứng dụng, phát triển công nghệ trong công tác điều tra cơ bản địa chất về khoáng sản và hoạt động khoáng sản. Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân tham gia đầu tư, hợp tác với các tổ chức chuyên ngành địa chất của Nhà nước để điều tra cơ bản địa chất về khoáng sản. SVTH: Hồ Đắc Quyền_ Lớp K45KT TNMT 7 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆPGVHD: Th.S Tôn Nữ Hải Âu 5.
Nhà nước đầu tư thăm dò, khai thác một số loại khoáng sản quan trọng để phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh. Nhà nước khuyến khích dự án đầu tư khai thác khoáng sản gắn với chế biến, sử dụng khoáng sản để làm ra sản phẩm kim loại, hợp kim hoặc các sản phẩm khác có giá trị và hiệu quả kinh tế - xã hội. Nhà nước có chính sách xuất khẩu khoáng sản trong từng thời kỳ phù hợp với mục tiêu phát triển bền vững kinh tế - xã hội trên nguyên tắc ưu tiên bảo đảm nguồn nguyên liệu cho sản xuất trong nước.4 Những hành vi bị cấm trong hoạt động khoáng sản Theo điều 8 Luật khoáng sản Việt Nam quy định cấm các hành vi dưới đây 1. Lợi dụng hoạt động khoáng sản xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
Lợi dụng thăm dò để khai thác khoáng sản. Thực hiện điều tra cơ bản địa chất về khoáng sản, hoạt động khoáng sản khi chưa được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cho phép. Cản trở trái pháp luật hoạt động điều tra cơ bản địa chất về khoáng sản, hoạt động khoáng sản. Cung cấp trái pháp luật thông tin về khoáng sản thuộc bí mật nhà nước.
Cố ý hủy hoại mẫu vật địa chất, khoáng sản có giá trị hoặc quý hiếm. Các hành vi khác theo quy định của pháp luật.2 Cơ sở thực tiễn 1.1 Tình hình khai thác cát ở một số quốc gia trên thế giới Ở nhiều quốc gia trên thế, nhu cầu về các đang ngày càng tăng lên do sự giă tăng nhanh chóng của khu vực công nghiệp. Sự gia tăng này đã thúc đẩy sự ra đời và phát triển mạnh mẽ của các cơ sở khai thác và kinh doanh cát nhanh chóng. Thực trạng khai thác cát ồ ạt đang diễn ra tại nhiều nước, đặc biệt là các nước đang phát triển như : Srilanka, Ấn Độ, Campuchia….Tình trạng này đã làm phát sinh nhiều tác động tiêu cực như sói mòn, sạt lở bờ sông, hệ thống kè bờ sông, làm thay đổi dòng chảy các con sông, ô nhiễm môi trường, suy giảm chất lượng nước, tác động tiêu cực đến sức khỏe, đời sống con người.
SVTH: Hồ Đắc Quyền_ Lớp K45KT TNMT 8 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆPGVHD: Th.S Tôn Nữ Hải Âu Theo thống kê của Campuchia, mỗi ngày có khoảng 50-60 ngàn tấn cát khai thác từ các bãi cát trên sông Mê Kông được xuất sang Singapore, thị trường hiện có nhu cầu cát rất lớn để thực hiện các công trình xây dựng và kế hoạch lấn biển. Do cát vàng Campuchia có chất lượng tốt trong xây dựng nên Australia, Nhật Bản cũng đang tìm mua. Từ 6 giờ sáng đến 6 giờ tối, sông Mê Kông đoạn gần biên giới Việt Nam - Campuchia như một công trường lớn, với hàng chục cần cẩu làm việc liên tục, đã gây ra những ảnh hưởng nghiêm trọng cho dòng sông MêKông dẫn đến hiện tượng sạt lở đất, ảnh hưởng đến đất sản xuất nông nghiệp cho người dân đất nước Campuchia. Tại Ấn Độ tình trạng khai thác cát diễn ra hết sức phức tạp và gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến con người và môi trường.
Tháng 7/2008, một chuyên gia theo dõi tác động nguy hại của việc khai thác cát ở sông Amaravathy thuộc thành phố Chettipalayam, Ấn Độ cho biết: “Sông Amaravathy vốn cung cấp nước sinh hoạt cho toàn bộ thị trấn Karur, nhưng hiện nay thậm chí nó còn không cung cấp đủ nước cho các ngôi làng dọc hai bờ sông nữa.” Tại quận Palakkad, trữ lượng cát giảm mạnh cùng những quan ngại ngày càng tăng về môi trường đã buộc chính quyền địa phương phải ban hành lệnh cấm khai thác cát trong toàn quận. Thế nhưng hoạt động khai thác trái phép vẫn diễn ra. Một số nơi người ta còn dùng thủ đoạn trộn lẫn cát sông và cát biển để tăng lợi nhuận làm ảnh hưởng lớn đến tuổi thọ của công trình.