Chương I: Tổng quan về vin để nghiên cứu “Chương 2: Cơ sở lý luận và các giải pháp chỉnh tr sông én định lòng din. Chương 3: Đặc điểm khu vue sông Lô đoạn Lão Hoàng. Chương 4: Để suất các giải pháp công trình chinh trị nhằm én định bo và lòng. dẫn đoạn sông Kết luận và kiến nghị.
TONG QUAN VE VAN ĐÈ NGHIÊN CUU LL Tổng quan tình hình nghiên cứu trên thé giới Khai thác cất trong lòng sông, để cung cấp cho các mục đích khác nhau (lim vật liệu xây dựng, tôn nền, lần bién v.) là một nhu cầu đồi hỏi của thực tế, nhưng sẽ lầm thay đổi rit lớn tới hình dạng, kích thước, độ đốc, địa chất lòng dẫn, làm thay đổi hảm lượng bùn cát, thành phần hạt trong dòng chảy và như vậy sẽ phá vỡ trạng thái cân bằng tương đối giữa lòng dẫn và dòng chảy đã tồn tại trước đây. Điều này dẫn tới nhiều vẫn đề xây ra tốt có, xấu có. À việc khai thác cát không dựa trên cơ sở khoa. học, không được quy hoạch trên toàn tuyến sông, không được kiểm soát chặt chẽ thi chúng ta phat gánh chịu hậu qu eit nghiêm trọng, cụ thể nh ~ Phá vỡ trạng thái cân bằng đã được xác lập trong một thời gian dài, gây xói, bồi ngoai quy luật, - Ảnh hưởng tới an toàn phông lũ va các công trình trên sông; = Hạ thấp đường mye nước mùa kiệt, làm giảm hiệu quả những công trình lấy "ước xây dựng dọc sông, tạo điều kiện cho nước mặn xâm nhập sâu vào nội đồng; ~ Ảnh hướng tới an toàn giao thông thủy do thay đổi luồng lạch, do phương tiện Khai thác cát chiếml ông chạy thu; + Ảnh hưởng tới chit lượng nước (do chất thải của các thết bị khai thác), gây tiếng ôn và lầm mit mỹ quan; - Gây thất thoát tài nguyên quốc gia: ~ Lam mắt tt xã hội do tranh chấp mỏ, cạnh tranh thị rường: Ảnh hướng xếu tối môi trường sinh thải vi làm thay dỗi điều kiện sống của các loài thủy sinh vv.
The effects of sand dredging Hình 1. Khai thác cát ảnh hưởng ti vàng lan cận Hậu quả không tốt xây ra do tình trạng Khai thác cất quá mic, không có quy hoạch trên sông Yangtze của Trung Quốc là một thí dụ điển hình. Khai thác cất trên sông Yangtze bắt đầu từ đầu những năm 1970, trên cả hiểu đài ông, Quy mô, khối lượng. te độ khai thác cát trên sông gắn liền với tốc độ phát triển đô thị hóa của khu vực.
Vì thu được lợi nhuận cao nên nhiều công ty khai thác cát hợp pháp và bắt hợp pháp thi nhau cải tiến kỹ thuật, mua sim trang thiết bị với công suất lớn đến 500 tắn giờ _. Một sổ loại thiất bj, máy móc khai thác cát có công suất lớn đang được sử: dung ở Trung Quốc “Tính đến năm 2000, ố điểm khai thác cát trên sông Yangtze da vượt con số 70. với hơn 800 đơn vị khai thác lớn, nhỏ [13]. Tình trạng khai thác cát trên sông đã hết khả năng kiểm soát của chính quyỄn dia phương.
hậu quả đem lại là nhiễu km để chống lũ ving cửa sông bị đổ bổ, gây thiệt hại hàng trăm trigu đổ la, đặt các ving đất thấp phía hạ du vào inh trạng nguy hiểm. Cùng với những thiệt hạ lớn do ngập lũ, do sat lo bờ sông vì lòng din diễn biển x6i bồi bắt quy luật là những vẫn đ xã hội rất bức xúc diễn ra thường xuyên như: tranh chấp mỏ, cạnh tranh thị trường, tai nan giao thông thủy v. Trước tình trang phúc tạp đó, chính phú Trung Quốc đã phải ban hành lệnh cắm khai thác cát đưới mọi hình thức trên sông Yangtze trong vòng 3 năm. Nhưng giải pháp ngưng khai thác cát trên sông không phải là i pháp tối wu vi đã đẩy giá cát lên mức không thể chấp nhận được, một số lượng lớn người lao động bị mắt việc, nhiều máy móc thiết bị bị hư hỏng theo thời gian, căn trở tốc độ phát iển kinh tế xã hội khu vực, lầm thất thot isn quốc gia vv 6 Một điển hình khác về hậu qua không như mong muốn của việc khai thé sông, đồ là những lä xảy ra trên 50 km chiễu dài lòng sông Nilwala, mi Lanka.
Có thể nói dọc theo chiều dai sông cứ trung bình 3-4 km có một vùng mỏ khai thác cát với hing trăm phương tiện thiết bị máy móc. Thực trạng khai thác cát không có quy hoạch, khai thác quá mức trên sông đã gây ra nhiều vin dé môi trường như: XXói lờ bờ sông, làm nhiều nhà cửa, cầu cống, công trình kiến trúc lâu đời bên sông bị đồng nước cuỗn đi, gia tăng xâm nhập mặn, gây 6 nhiễm môi trường nước, tắc động bắt lợi đến hệ sinh thái sông (Dulmini, 2009), Để giải quyết những vẫn đề bức xúc về môi trường đang diễn ra trên sông Nilwala, chính phủ Sti Lanka đã phải ban hành cắm. hoàn toàn việc khai thác cất trên ing. Đây lại là một quyết định bị động, thiếu tính "khả thi vi rất khó thực hiện, do yêu cầu phát triển đắt nước.
Trên bước đường xây dung và phát triển đắt nước có thể chỉ ra hàng loạt các cuốc gia trên thể giới đặc biệt là những quốc gia đang và chậm phát triển đều gặp phải những mâu thuẫn chưa thé giải quyết giữa lợi ích và những thiệt hại môi tường do khai thác cát gây ra như Ấn Độ, Thái Lan, Nam 1981, SOGREAH [17] dùng mô hình toán, tính mực nước lũ trên sông. Loire sau khi lông sông bị hạ thấp, ghỉ nhận sự hạ thắp mực nước lũ trên 23 chiều dài đoạn sông, trên 1/3 chiều dai còn lại, mực nước sông hoặc dâng cao hoặc không hạ thấp, Khối lượng cắt khai thác cao nhất trên sông Loire xẩy ra vào năm 1979, dat 4.106 mã, trong khi lượng cát về hing năm theo tinh toán vào khoảng 1. Vì những bậu quả lớn, ảnh hưởng đến dòng chiy, năm 1981 chính quyển đã chủ trương cắm khai thác ở lông sông chính, chỉ cho phép khai thác ở cic bãi ven đã giảm đáng ké tổng lượng cát khai thác trên sông Loire, Chủ trương này đã cho kết quả khá tốt, từ năm 1983 đến 1989 cao độ lòng sông và mục nước mia kiệt đã hồi phục dẫn din, ‘Thing 7 năm 2010, Tiến sĩ L. Gunaraine, Vụ Kinh t& Nông nghiệp và Quản trì Kinh doanh, Khoa Nong nghiệp, Dai học Peradeniya, Sri Lanka công bổ đề tài nghiên cứu: "Chính sich lựa chọn cho khai thác bên vũng cất sông ở Sử Lanka.” [11] Sri Lanka là một hon đảo với diện tích 65.525 kmỶ, với 103 con sông khác b t, suối.
và 94 lưu vục ven biển, Ngoại trừ con sông đi nhất Tà Mahaweli trải đi 335 km, tất cả các con sông khá là Ít hơn 160 km chiều đài. Những con sông này đồng vai rd quan trong trong cuộc sống người dã i Lanka.Theo báo cáo của Tiến sĩ LHP. 7 Gunaratne, sau thảm họa sóng thần ở Châu A năm 2004, hoạt động khai thác cát ở các liu vực sông tăng 2,5 lần để cung cắp vật liệu cho ngành công nghiệp xây dung. Do việc mở rộng khai thác cát một cách đột biển trên các con sông gây ảnh hưởng lớn đến môi trường và xã hội tại Sri Lanka.
Vấn dé môi trường bao gồm các hiệu ứng tiêu cực như xối 16 bờ sông, hạ thắp mực nước ngằm. sự xâm nhập của nước mặn, thiệt hại đến thảm thực vật ven sông, mắt môi trường sống của người dan, gia tăng các vấn đề sức khỏe liên quan đến muỗi, va tác động đến ket cấu cin các cây cầu. Tác động gián tiếp cđến sự suy yếu đường giao thông nông thôn và tăng x6i lở bờ biển. Vấn đề càng trở nên trim trọng do Sri Lanka chưa có một khung pháp lý rõ ràng về việc khai thác cát Ngoài ra còn do các vin đỀ chính tị, sự bảo thủ giữa các nhóm lợi ích, và cả như cầu của những người dân nông thôn nghèo được hưởng lợi trực tiếp từ cát "rong bối cảnh này, nghiên cứu cia Tién st L.
Gunaratne nhằm xác định các lựa chọn chính sách khai thác cất sông bên vũng giảm thiểu suy thoái môi trường trong khi dip ứng yêu cầu của ngành công nghiệp xây dưng và người cin địa phương N lên cứu theo bốn phân tích riêng biệt: so sánh các chỉ phí hàng năm và những lợi ích của các khu vực khai thác được lựa chọn, phân tích các quan điểm và sở thích của các thợ mé bằng cách sử dụng mô hình lựa chọn, đánh giá các ý kiến chuyên gia sit cdụng nhiều tiêu chí phân tích và so sánh các nguồn thay thé cát sông. Mặc tiêu nghiệ cứu cụ thé của ông là tình bày tổng quan về tình hình hiện nay liên quan đến khai thác cát sông, bao gồm cả những nguyên nhân chung của suy thoái môi trường và các thể chế và chi h sách thiết lập. ~ So sánh lợi nhuận tư nhân và chỉ phí xã hội của việc khai thác cát sông: - Phân tích các ưu di và thương mại của các lựa chọn khác nhau cho các thợ mo. "Đánh gid các lựa chon thay thé thích hợp cho khai thác cất sông làm giảm ấp lực rên sông trong khi vẫn duy tì ngành công nghiệp xây dựng.
Năm 2009, một nhóm nghiên cửu gồm Jan de Leeuw; David Shankman; Guofeng Wu; Willem Frederik de Boer; James Burnham; Qing He; Herve Yesou; Jing ‘Xiao công bố hoàn thành để tài nghiên cứu: * Chiến lược đánh giá mức độ va tác động của hoại động khai thác cất rong hỗ Poyang, Trung Qu 8 Trong nghiên cứu này, nhóm nghiên cứu đánh giá tác động của việc Khai thác sát trong hỗ Poyang, nơi bắt đầu nạo vét năm 2001sau khi khai thie cắt ở sông Dương Từ bị cắm. Trong mỗi quan tâm thing 4 năm 2008 về tác động dối với da dạng sinh học trên cát đã din đến một lệnh cắm khai thác cát ở hỗ Poyang cho đến khi có thé đưa ra một ké hoạch khai thác tốt hơn. KẾ hoạch này yêu cit xem xét cả cát khai thác ign quan đến nguồn tài nguyên trim tích sẵn cổ và tác động mỗi trường trong bồi cảnh của tương li nhủ cẫ cát ở đưới sông Dương Tit "ĐỂ thực hiện nghiên cứu này. nhóm nghiên cứu đã sử dung cặp hồng ngoại gin (SIR) bình ảnh vệ tinh Aster để ước tính số lượng tu thuyển ra hd, Dựa vào đó, họ xác định được tỷ lệ khai thác cát là 236 triệu mÌ/ năm vào năm 2005- 2006.
Điều này tương ứng với 9% tổng số nhủ cầu về cát của Trung Quốc. Từ đó có đủ điều kiện khẳng định hd Poyang như là một hỗ có lượng cát khai thác lớn nhất th giới.