lời mở đầu của Công ước – “các vấn đề không quy định trong Công ước sẽ tiếp tục được xử lý bằng các quy tắc và nguyên tắc của pháp luật quốc tế chung”, khái niệm “vùng nước lịch sử - vịnh lịch sử” cũng như là danh nghĩa lịch sử chủ yếu được điều chỉnh bởi tập quán pháp quốc tế, và đặc biệt là án lệ pháp của các tòa án và tòa trọng tài quốc tế - trọng tâm của bài viết này. Định nghĩa và các yếu tố cấu thành nên “danh nghĩa lịch sử” 1. Định nghĩa của “danh nghĩa lịch sử” Như đã phân tích ở trên, theo luật pháp quốc tế thì không tồn tại một 16 z định nghĩa chính thức của thuật ngữ “danh nghĩa lịch sử” – hay còn có thể được đề cập đến với tên gọi có ý nghĩa tương tự là “các quyền lịch sử”. Khi Ban Thư kí LHQ, theo yêu cầu của ILC, chuẩn bị báo cáo về chế độ pháp lý của các vùng nước lịch sử, bao gồm các vịnh lịch sử, công trình nghiên cứu này đã phân tích các yếu tố của danh nghĩa đối với vùng nước lịch sử, và việc giải quyết các tranh chấp.
Tuy vậy, nó không đưa ra một khái niệm mang tính kết luận về vùng nước lịch sử và tiêu chuẩn để theo đó khái niệm này có thể được áp dụng. Do đó vấn đề lý thuyết về khái niệm vùng nước lịch sử vẫn chưa được giải quyết. Do sự tranh cãi xung quanh khái niệm này, Hội nghị lần thứ Ba của Liên hợp Quốc về Luật Biển (UNCLOS III) đã chấm dứt thảo luận về vấn đề và chỉ nhắc đến nó rất ít trong Công ước Liên hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 – UNCLOS 1982 (đã được đề cập ở trên). Về vấn đề này dưới góc độ án lệ pháp quốc tế, bên cạnh phán quyết trong Vụ việc Trọng tài Thẩm quyền Nghề cá tại Bờ biển Đại Tây dương năm 1910 ở trên, tòa trọng tài trong vụ việc Eritrea/Yemen (Giai đoạn về chủ quyền lãnh thổ và phạm vi tranh chấp) – một vụ việc mà các bên trực tiếp viện dẫn đến danh nghĩa lịch sử (sẽ được đề cập đến chi tiết hơn tại phần dưới đây) – cũng chỉ đưa ra một nhận định mơ hồ như sau: Không nghi ngờ gì là khái niệm danh nghĩa lịch sử có một ý nghĩa đặc biệt trong những tình huống mà thậm chí là tồn tại trong thế giới đương đại hiện nay, chẳng hạn như tình huống phải xác định chủ quyền đối với những vùng đất du mục bị chiếm cứ từ thời điểm không thể xác định bởi một số bộ lạc, những người đã thề trung thành với nhà cai trị đã mở rộng quyền lực chính trị - xã hội của mình tới khu vực địa lý đó [82].
Tuy nhiên, một vài học giả đã tìm cách giải thích nó theo cách của riêng họ. Ví dụ, theo như Blum, “thuật ngữ “các quyền lịch sử” biểu thị sự 17 z sở hữu, bởi một quốc gia và trên những vùng lãnh thổ trên đất liền và trên biển nhất định, các quyền mà theo lẽ thông thường sẽ không được trao cho nó theo các quy tắc chung của luật pháp quốc tế; những quyền đó được quốc gia ấy thụ đắc thông qua một quá trình củng cố về mặt lịch sử” [21]. Blum giải thích thêm rằng: Các quyền lịch sử là sản phẩm của một quá trình lâu dài bao gồm một chuỗi dài những hành động, không hành động và các khuôn mẫu hành vi mà, thông qua toàn bộ những hành động đó và tác động tích lũy của chúng, hình thành nên những quyền như thế và củng cố chúng thành các quyền hợp pháp theo luật pháp quốc tế [21]. Các học giả khác, như Andrea Gioia, sử dụng thuật ngữ “các quyền lịch sử” để biểu thị “các quyền mà một quốc gia đã thụ đắc đối với một hoặc nhiều quốc gia bằng việc thực thi hữu hiệu những quyền đó, với sự mặc nhận của quốc gia hoặc các quốc gia hữu quan” [34, tr.
Artur Kozlowski không cố gắng tìm cách gán cho khái niệm này một ý nghĩa cố định mà thay vào đó là chỉ xét thấy rằng đây là “một nguyên tắc mà cuối cùng phải có nguồn gốc trong tập quán quốc tế, xét cả về quá trình hình thành và các tác động pháp lý của nó” [48, tr. Theo Florian Dupuy và Pierre – Marie Dupuy, khái niệm này đồng nghĩa với việc “một quốc gia đã thực thi quyền lực nhà nước đối với các vùng nước ven bờ của nó – mà được coi là có ý nghĩa sống còn đối với an ninh và kinh tế của nước này – sẽ, sau một khoảng thời gian, được coi là có danh nghĩa lịch sử đối với những vùng nước có liên quan, với điều kiện là các quốc gia hữu quan khác đã liên tục chấp nhận những hoàn cảnh như vậy” [27, tr. Như vậy, có thể thấy ngay cả trong giới học giả quốc tế trong lĩnh vực công pháp quốc tế nói chung và luật biển quốc tế nói riêng cũng khó thống nhất được về một khái niệm hoàn chỉnh về “danh nghĩa lịch sử”, và điều này vẫn tiếp diễn cho đến thời điểm hiện tại. Tuy nhiên, có một yếu tố mà gần như 18 z mọi tác giả đều đạt được một sự nhất trí chung, đó là về các yếu tố cấu thành nên danh nghĩa lịch sử.
Trên thực tế, đây là yếu tố có thể coi là quan trọng nhất đối với học thuyết này, thậm chí còn quan trọng hơn cả việc xây dựng nên được một định nghĩa được chấp nhận rộng rãi trong cộng đồng nghiên cứu công pháp quốc tế. Bởi vì có đáp ứng được những yếu tố cấu thành này thì một quốc gia, trong tranh chấp chủ quyền lãnh thổ trên biển – hải đảo của nước này với quốc gia khác, khi yêu sách danh nghĩa lịch sử đối với vùng lãnh thổ trên biển mới có nhiều khả năng thuyết phục được Tòa án xét xử tranh chấp này. Các Yếu tố Cấu thành nên “Danh nghĩa Lịch sử” Như đã đề cập đến ở trên, dường như có một sự chấp nhận chung là có ít nhất ba yếu tố phải được tính tới khi xác định xem liệu một quốc gia đã có được một danh nghĩa lịch sử đối với một vùng biển hay chưa. Những yếu tố này là: (1) sự thực thi quyền lực trên khu vực bởi quốc gia đang yêu sách quyền lịch sử; (2) tính liên tục của hoạt động thực thi quyền lực này; (3) thái độ của các quốc gia khác.
Trước tiên, một quốc gia phải thực thi quyền lực trên vùng lãnh thổ đang xét tới để nhằm có được một danh nghĩa lịch sử đối với lãnh thổ đó. Thứ hai, hành động thực thi quyền lực đó phải diễn ra liên tục trong một khoảng thời gian đáng kể; quả thực nó phải được phát triển thành một tập quán. Gây nhiều tranh cãi hơn là yếu tố thứ ba, lập trường mà các quốc gia khác có thể đưa ra đối với việc thực thi quyền lực này. Một số tác giả khẳng định rằng phải có sự công nhận của các quốc gia khác để cho một danh nghĩa lịch sử có thể phát sinh; số khác nghĩ rằng chỉ cần không có sự phản đối của các quốc gia này là đủ [45, đoạn 80, tr.
Bên cạnh ba yếu tố vừa được nhắc tới đây có một yếu tố thứ tư nữa đôi khi được đề cập đến. Đã có đề xuất rằng nên dành sự tập trung cho câu hỏi liệu yêu sách có thể được biện minh trên cơ sở sự cần thiết về kinh tế, an ninh 19 z quốc gia, lợi ích sống còn hay là một cơ sở tương tự hay không. Theo một ý kiến, những cơ sở như thế thậm chí còn nên được coi là tạo thành căn cứ có tính chất nền tảng cho một danh nghĩa đối với “các vùng nước lịch sử”, để từ đó chúng có thể có đủ khả năng củng cố cho danh nghĩa này kể cả nếu thiếu yếu tố lịch sử. - Sự thực thi quyền lực trên khu vực có yêu sách Đây là yếu tố cấu thành đầu tiên phải được xét đến khi xác định tính chất hợp lệ của một “danh nghĩa lịch sử” đối với một vùng lãnh thổ nhất định.
Có nhiều cách diễn đạt được sử dụng trong lý thuyết và thực tiễn để chỉ quyền lực mà một quốc gia phải thực thi liên tục trên một vùng biển nhằm có khả năng yêu sách vùng biển đó trên cơ sở của một danh nghĩa lịch sử. Một số ví dụ có thể được nhắc đến là “quyền lực riêng biệt”, “thẩm quyền”, “quyền thống trị”, “quyền sở hữu tối cao”, “chủ quyền” [45, đoạn 84, tr. Tuy nhiên, sự phong phú thuật ngữ không có nghĩa là có một sự bất đồng ý kiến sâu sắc và phức tạp về các điều kiện mà sự thực thi quyền lực này phải thực thi. Trái lại dường như có một sự nhất trí chung về ba vấn đề có liên quan, cụ thể là, phạm vi của quyền lực, những hành động mà qua đó nó có thể được thực thi và tính hữu hiệu của nó.
Phạm vi của quyền lực được thực thi. Khó có thể có nghi ngờ gì là quyền lực mà một quốc gia phải liên tục thực hiện trên một vùng lãnh thổ để nhằm có thể yêu sách danh nghĩa lịch sử đối với vùng lãnh thổ đó một cách hợp pháp phải là chủ quyền. Một quyền lực có phạm vi giới hạn hơn chủ quyền sẽ không đủ để tạo thành một cơ sở cho một danh nghĩa đối với vùng lãnh thổ như thế. Việc phạm vi của quyền lực được yêu cầu để tạo thành một nền tảng cho một yêu sách đối với “danh nghĩa lịch sử” sẽ phụ thuộc vào phạm vi của bản thân yêu sách là hợp với logic.
Nếu, do đó, theo như quan điểm được chấp nhận rộng rãi [33], một yêu sách “danh nghĩa lịch sử” đồng 20 z nghĩa với một yêu sách đối với một khu vực với tư cách là một phần của lãnh thổ quốc gia, tức là, nếu yêu sách “danh nghĩa lịch sử” là một yêu sách đối với chủ quyền trên một khu vực, thì quyền lực được thực thi, mà vốn là cơ sở cho yêu sách, cũng phải là chủ quyền. Mối tương quan giữa phạm vi của yêu sách và phạm vi của quyền lực mà quốc gia có yêu sách phải thực thi, và đồng thời là sự hợp lý của giả định rằng yêu sách “danh nghĩa lịch sử” là một yêu sách chủ quyền đối với vùng lãnh thổ đó, có thể được minh họa bằng một ví dụ.