Giáo trình nhà máy điện và trạm biến áp của Khoa Điện Trường Đại học Công nghiệp

Tài liệu tổng quan về hệ thống năng lượng, hệ thống điện, cấu tạo nhà máy điện và trạm biến áp cùng các phương thức sản xuất điện năng hiện nay.

Trường đại học

Đại học Công nghiệp

Chuyên ngành

Điện

Thể loại

Giáo trình
58
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về nhà máy điện và trạm biến áp Đại học Công nghiệp

Hệ thống năng lượng bao gồm ba bộ phận cơ bản gắn kết chặt chẽ. Bộ phận thứ nhất là nguồn phát năng lượng với nhiệm vụ chính là sản xuất nhiệt năng và điện năng. Bộ phận thứ hai là mạng lưới truyền tải có chức năng dẫn truyền nguồn năng lượng đi xa. Bộ phận thứ ba là các hộ tiêu thụ trực tiếp biến đổi điện năng thành nhiệt năng, cơ năng hoặc quang năng. Trong cấu trúc này, nhà máy điện đóng vai trò trung tâm sản xuất nguồn điện. Trạm biến áp giữ chức năng chuyển đổi các cấp điện áp phù hợp nhu cầu truyền tải và tiêu dùng. Hai thành phần này liên kết mật thiết qua hệ thống thanh góp và mạng lưới phân phối. Đặc tính cơ bản của hệ thống là quá trình sản xuất và tiêu thụ điện diễn ra đồng thời. Mọi sự cố làm mất cân bằng cung cầu đều gây gián đoạn hệ thống. Các quá trình quá độ diễn ra rất nhanh đòi hỏi thiết bị bảo vệ rơle tác động tức thời. Việc xây dựng hệ thống tập trung mang lại hiệu quả kinh tế vượt trội, giảm chi phí phát điện và hạ giá thành cho xã hội.

1.1. Vai trò của nhà máy điện trong cung cấp năng lượng

Nhà máy điện giữ trọng trách biến đổi nguồn năng lượng tự nhiên thành điện năng thương phẩm. Nguồn năng lượng sơ cấp bao gồm than đá, khí đốt, dầu mỏ, thủy năng, gió và mặt trời. Trong đó, nhà máy nhiệt điện sử dụng phổ biến nhiên liệu than đá kết hợp tua bin hơi. Nhiệt điện ngưng hơi chuyên dùng toàn bộ lưu lượng hơi để quay máy phát điện. Ngược lại, nhiệt điện trích hơi cung cấp thêm nhiệt phục vụ sinh hoạt dân cư và nhà máy công nghiệp lân cận. Các nhà máy thủy điện tận dụng thế năng dòng nước để vận hành máy phát. Tất cả nguồn phát đều yêu cầu chế độ vận hành ổn định và liên tục. Cơ chế sản xuất luôn bám sát biểu đồ phụ tải nhằm giữ vững tần số danh định trên toàn mạng lưới.

1.2. Chức năng truyền tải và phân phối của trạm biến áp

Trạm biến áp là mắt xích điều phối quan trọng giữa nơi sản xuất và nơi tiêu thụ. Máy biến áp làm nhiệm vụ tăng điện áp đầu cực máy phát lên cấp siêu cao áp. Điện áp cao giúp giảm tổn thất truyền tải trên đường dây liên lạc dài. Khi đến các trung tâm phụ tải, trạm hạ áp đưa điện áp về mức trung và hạ áp an toàn. Trạm biến áp còn chứa các thiết bị đóng cắt, đo lường và bảo vệ tự động. Cấu trúc trạm biến áp tạo điều kiện ghép nối nhiều nguồn phát vào một lưới điện quốc gia. Sự liên kết này nâng cao tính kinh tế, tối ưu hóa công suất nguồn điện và bảo đảm phân phối điện liên tục cho các hộ tiêu thụ công nghiệp lẫn dân dụng.

II. Phân tích quá tải và sự cố trong nhà máy điện và trạm biến áp

Trong quá trình vận hành, hiện tượng quá tải và sự cố điện từ gây ra nhiều nguy cơ cho hệ thống. Phụ tải điện thường xuyên biến động theo giờ và theo mùa. Khi nhu cầu công suất tăng vọt, máy biến áp phải đối mặt với trạng thái mang tải vượt định mức. Tình trạng quá tải làm tăng nhiệt độ cuộn dây và thúc đẩy tốc độ già cỗi cách điện. Nếu nhiệt độ dầu và cuộn dây vượt ngưỡng giới hạn, độ bền cơ học của vật liệu cách điện sẽ suy giảm nhanh chóng. Hiện tượng già hóa này trực tiếp rút ngắn tuổi thọ kinh tế của thiết bị điện. Ngoài ra, sự cố ngắn mạch gây ra các dòng xung kích cực lớn. Dòng điện ngắn mạch sinh ra lực điện động mạnh mẽ, dễ làm biến dạng cuộn dây và phá hủy các thanh dẫn điện. Quá trình phóng điện hồ quang trong thiết bị phân phối cũng tạo ra nhiệt lượng khổng lồ. Áp lực hồ quang có thể gây nổ máy biến áp hoặc cháy lan sang các thiết bị lân cận nếu không được cô lập tức thời.

2.1. Tác động của quá tải đến tuổi thọ cách điện máy biến áp

Hiện tượng già cỗi cách điện trong máy biến áp tỷ lệ thuận với mức nhiệt độ vận hành. Chất cách điện dạng giấy tẩm dầu suy giảm cơ tính rất nhanh khi nhiệt độ vượt mức cho phép. Quy tắc hóa sinh chỉ ra rằng mỗi khi nhiệt độ tăng thêm sáu độ C, tốc độ thoái hóa cách điện sẽ tăng gấp đôi. Trong mùa hè, phụ tải điều hòa và làm mát tăng cao làm giảm khả năng giải nhiệt tự nhiên của máy biến áp. Sự cố quá tải kéo dài dẫn đến suy giảm độ bền điện môi, tạo nguy cơ phóng điện cục bộ bên trong thùng dầu. Tình trạng này làm giảm khả năng chịu đựng của cuộn dây khi xuất hiện quá điện áp khí quyển hay quá điện áp nội bộ.

2.2. Nguy cơ mất an toàn tại thiết bị phân phối điện ngoài trời

Thiết bị phân phối ngoài trời chịu tác động trực tiếp từ khí hậu khắc nghiệt. Các khí cụ không có vách ngăn cơ học giữa các pha và các lộ đường dây. Khoảng cách không khí đóng vai trò làm môi chất cách điện giữa các phần mang điện áp cao. Bụi bẩn công nghiệp hoặc độ ẩm cao làm suy giảm cách điện của chuỗi sứ. Hiện tượng phóng điện bề mặt dễ phát sinh, gây ngắn mạch nhiều pha nguy hiểm. Gió bão mạnh còn làm dây dẫn dao động, thu hẹp khoảng cách an toàn pha đất và giữa các pha. Khi xảy ra sự cố chạm chập, hồ quang hở sinh ra áp lực và nhiệt lượng lớn, đe dọa an toàn của nhân viên vận hành.

III. Giải pháp kỹ thuật vận hành nhà máy điện và trạm biến áp chuẩn

Để đảm bảo hệ thống vận hành an toàn và tin cậy, các tiêu chuẩn kỹ thuật nghiêm ngặt phải được áp dụng triệt để. Về mặt vận hành máy biến áp, kỹ sư áp dụng quy tắc một phần trăm nhằm bù trừ non tải mùa hè cho mùa đông. Tổng công suất quá tải mùa đông không được vượt quá ba mươi phần trăm định mức. Trong trường hợp xảy ra sự cố đột xuất, chế độ quá tải cho phép đạt mức bốn mươi phần trăm trong năm ngày đêm liên tục. Mỗi ngày thời gian quá tải không vượt quá sáu giờ với hệ số điền kín đồ thị phụ tải khống chế dưới 0,75. Đối với thiết bị phân phối điện, việc bố trí khoảng cách an toàn hình học là bắt buộc. Khoảng cách giữa các pha và khoảng cách pha đến đất tuân thủ trị số tiêu chuẩn tương ứng với từng cấp điện áp. Hệ thống bảo vệ rơle số tốc độ cao cùng thiết bị tự động đóng lại nguồn điện được tích hợp đầy đủ. Giải pháp này giúp phát hiện, cô lập điểm sự cố chỉ trong vài mili giây và khôi phục cung cấp điện nhanh chóng.

3.1. Phương pháp tính toán và kiểm soát quá tải cho phép

Kiểm soát tải của máy biến áp dựa trên biểu đồ phụ tải hàng ngày và chu kỳ thời tiết. Khi mức độ mang tải mùa hè thấp hơn định mức, quy tắc một phần trăm cho phép máy làm việc quá tải vào mùa đông tương ứng. Trị số tăng tải giới hạn riêng theo quy tắc này không vượt quá mười lăm phần trăm. Việc giảm hệ số phụ tải hàng ngày cho phép nâng mức tải cực đại tương ứng. Khi gặp sự cố, máy biến áp công suất dưới 250 MVA vận hành theo thời gian giới hạn nghiêm ngặt. Mức quá tải dòng điện hai trăm phần trăm cho phép máy dầu duy trì trong 1,5 phút. Phương pháp tính toán khoa học này vừa duy trì nguồn điện vừa bảo toàn tuổi thọ cách điện.

3.2. Quy định khoảng cách an toàn thiết bị phân phối điện

Thiết kế trạm điện yêu cầu tuân thủ khoảng cách an toàn không khí tối thiểu. Các khí cụ và dây dẫn ngoài trời được đặt trên các khung giá đỡ có chiều cao đạt tiêu chuẩn. Khoảng cách C từ dây dẫn tới mặt đất phụ thuộc trực tiếp vào cấp điện áp danh định. Ở cấp điện áp 110 kV, khoảng cách C đạt 360 cm và tăng lên 600 cm đối với cấp 500 kV. Khoảng cách ngang D giữa hai phần mang điện là 290 cm ở cấp 110 kV và 575 cm ở cấp 500 kV. Thiết bị trong nhà yêu cầu khoảng cách giữa các thanh góp chặt chẽ để tránh phóng điện chéo. Bố trí hình học chuẩn xác giúp kỹ sư thực hiện sửa chữa an toàn từng phân đoạn độc lập.

IV. Ứng dụng thực tế của nhà máy điện và trạm biến áp vào đời sống

Sự kết hợp đồng bộ giữa nhà máy điện và trạm biến áp tạo lập nền tảng hạ tầng năng lượng quốc gia vững chắc. Trong thực tiễn công nghiệp, hệ thống này bảo đảm nguồn điện liên tục cho các khu chế xuất, nhà máy luyện kim và trung tâm dữ liệu. Nguồn điện chất lượng cao hạn chế sụt áp, ngăn ngừa tổn thất thiết bị đắt tiền và duy trì dây chuyền sản xuất tự động. Đối với đời sống dân sinh, trạm biến áp phân phối hạ áp trực tiếp cấp điện ổn định cho chiếu sáng, thiết bị sinh hoạt gia đình và cơ sở y tế. Hơn nữa, việc tích hợp nguồn năng lượng tái tạo như phong điện và quang điện đòi hỏi trạm biến áp phải nâng cấp công nghệ điều khiển thông minh. Khả năng điều tiết điện áp linh hoạt và giám sát vận hành từ xa giúp tối ưu hóa chi phí vận hành. Giáo trình của Khoa Điện trường Đại học Công nghiệp cung cấp kiến thức nền tảng vững chắc cho kỹ sư trong thiết kế, vận hành và quản lý lưới điện hiện đại.

4.1. Ứng dụng trong phát triển mạng lưới công nghiệp hóa

Hệ thống cung cấp điện là xương sống của nền sản xuất hiện đại. Các nhà máy điện nhiệt điện và thủy điện cung cấp dòng năng lượng liên tục cho các ngành công nghiệp nặng. Trạm biến áp trung gian đảm nhận trọng trách chuyển đổi nguồn điện cao áp về cấp điện áp thích hợp cho từng phân xưởng. Độ tin cậy cung cấp điện cao giúp doanh nghiệp duy trì năng suất sản xuất liên tục và loại bỏ lãng phí do ngừng máy đột ngột. Bên cạnh đó, việc chia sẻ phụ tải hợp lý giữa các nhà máy trong hệ thống giúp tối ưu hóa giá thành sản xuất điện. Cơ chế phân phối thông minh góp phần trực tiếp hạ giá thành sản phẩm công nghiệp và gia tăng sức cạnh tranh của nền kinh tế.

4.2. Định hướng đào tạo kỹ sư điện tại Đại học Công nghiệp

Chương trình đào tạo ngành Điện tại trường Đại học Công nghiệp chú trọng kết hợp lý thuyết và kỹ năng thực hành. Sinh viên được trang bị kiến thức chuyên sâu về nguyên lý hoạt động của máy phát, cấu tạo thiết bị phân phối và tính toán ngắn mạch. Nội dung giảng dạy bám sát tiêu chuẩn vận hành an toàn trạm biến áp và lưới truyền tải. Các phòng thí nghiệm chuyên dụng hỗ trợ thực nghiệm mô phỏng chế độ quá tải, kiểm tra độ suy giảm cách điện và cài đặt rơle bảo vệ. Đội ngũ kỹ sư tương lai làm chủ kỹ thuật phân tích đồ thị phụ tải, thiết kế hệ thống thanh góp và điều khiển thiết bị cao áp. Nền tảng học thuật vững chắc này cung ứng nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành điện lực.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

31/10/2026
Hệ thống năng lượng là tập hợp những nhà máy điện trạm biến áp các hộ tiêu thụ điện và nhiệt năng chúng được nối lại với nhau bằng các mạng điện và nhiệt hệ thống điện là một bộ phận của hệ thống năng lượng gồm có các máy phát điện thiết bị phân

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 KHÁI NIỆM CHUNG VỀ NHÀ MÁY ĐIỆN VÀ TRẠM BIẾN ÁP 1.1 NĂNG LƯỢNG VÀ VẤN ĐỀ SẢN XUẤT ĐIỆN NĂNG Hệ thống năng lượng là tập hợp những nhà máy điện, trạm biến áp, các hộ tiêu thụ điện và nhiệt năng, chúng được nối lại với nhau bằng các mạng điện và nhiệt. Hệ thống điện là một bộ phận của hệ thống năng lượng gồm có các máy phát điện, thiết bị phân phối điện, mạng điện và các hộ tiêu thụ điện. Người ta chia hệ thống năng lượng thành 3 bộ phận chính sau: 1- Nguồn phát năng lượng: Nhà máy điện sản xuất nhiệt năng và điện năng. 2- Bộ phận truyền tải: Mạng điện và nhiệt điện.

3- Các hộ tiêu thụ: Biến đổi điện năng và nhiệt năng thành các dạng năng lượng khác. Đặc điểm của hệ thống năng lượng: a- Sản xuất và tiêu thụ phải đồng thời, sự cố của bất cứ bộ phận nào làm mất sự cân bằng giữa sản xuất và tiêu thụ đều có thể dẫn đến ngừng làm việc một phần hay tòan bộ hệ thống. b- Các quá trình quá độ trong hệ thống năng lượng xảy ra rất nhanh, nên người ta phải sử dụng các thiết bị rơle tự động để loại trừ sự cố nhanh chống. c- Sự phát triển của hệ thống năng lượng phụ thuộc vào sự phát triển của nền kinh tế quốc dân và phải được phát triển trước một bước.

Ưu điểm của hệ thống năng lượng: a- Đảm bảo phân phối công suất hợp lý và kinh tế nhất, tận dụng các thiết bị và nguyên liệu địa phương một cách hợp lý, do đó giảm giá thành điện năng. b- Nâng cao tính chất đảm bảo cung cấp điện liên tục cho các hộ tiêu thụ. c- Giảm được phần trăm công suất dự trữ và tăng được công suất đơn vị các tổ máy. Nhược điểm của hệ thống năng lượng: Xây dựng hệ thống năng lượng đòi hỏi phải tốn chi phí đầu tư xây dựng các trạm biến áp và đường dây liên lạc.

Tuy nhiên nó sẽ được bù lại nhanh chống bằng việc hạ giá thành điện năng và tăng độ tin cậy cung cấp điện và nhiệt.2 QUÁ TRÌNH SẢN XUẤT ĐIỆN NĂNG TRONG NHÀ MÁY ĐIệN Nhà máy điện có nhiệm vụ biến đổi các dạng năng lượng khác nhau như năng lượng của nhiên liệu (than, dầu, khí đốt, nguyên tử v.) năng lượng của dòng nước, gió, mặt trời v.v… thành điện năng để cung cấp cho các hộ tiêu thụ. Căn cứ vào các loại nhiên liệu sự dụng cho nhà máy điện người ta chia ra: Nhà máy nhiệt điện, thủy điện, phong điện, nhà máy điện nguyên tử, nhà máy điện dùng năng lượng mặt trời … Giáo Trình Nhà Máy Điện và Trạm Biến áp 1 Trường Đại Học Công nghiệp Khoa Điện 1.1 Nhà máy nhiệt điện Trong nhà máy nhiệt điện người ta dùng nhiên liệu là than đá, dầu hoặc khí đốt, trong đó than đá được sử dụng rộng rãi nhất. Để quay máy phát điện, trong nhà máy nhiệt điện dùng tuabin hơi nước, động cơ đốt trong và tuabin khí, tuabin hơi nước có khả năng cho công suất cao và vận hành kinh tế nên được sử dụng rộng rãi. Nhà máy nhiệt điện còn được chia làm hai loại: Nhiệt điện ngưng hơi và nhiệt điện trích hơi: + Nhà máy nhiệt điện ngưng hơi tòan bộ hơi dùng sản xuất điện năng.

+ Nhà máy nhiệt điện trích hơi một phần năng lượng của hơi nước được sử dụng vào mục đích công nghiệp và sinh họat của nhân dân vùng lân cận. Nhà máy thủy điện: Nhà máy thủy điện dùng năng lượng của dòng nước để sản xuất ra điện năng. Động cơ sơ cấp để quay máy phát thủy điện là các tuabin nước trục ngang hay trục đứng. So với nhiệt điện nhà máy thủy điện có một số ưu điểm quan trọng sau: + Giá thành điện thấp chỉ bằng nhiệt điện.

+ Khởi động nhanh chỉ cần một phút là có thể khởi động xong và cho mang công suất, trong khi đó để khởi động một tổ máy nhiệt điện phải mẩt hàng ngày. + Có khả năng tự động hóa cao nên số người phục vụ tính cho một đơn vị công suất chỉ bằng 1/5 – 1/10 của nhiệt điện. + Kết hợp các vấn đề khác như công trình thủy lợi, chống lũ, hạn hán, giao thông vận tải …. Tuy nhiên nhà máy thủy điện cũng có một số nhược điểm đáng chú ý: + Vốn đầu tư xây dựng một nhà máy rất lớn.

+ Thời gian xây dựng dài. + Công suất bị hạn chế bởi lưu lượng và chiều cao cột nước. + Thường ở xa hộ tiêu thụ nên phải xây dựng đường dây cap áp rất tốn kém.3 Nhà máy điện nguyên tử: Thực chất nhà máy điện nguyên tử là một nhà máy nhiệt điện, trong đó lò đốt than được thay bằng lò phản ứng nguyên tử. Nhà máy điện nguyên tử tiêu thụ nguyên liệu là Uranium rất ít, vì năng lượng 1kg Uranium tương đương với năng lượng của 2700 tấn than đá tiêu chuẩn.

Vì vậy những vùng núi không thuận tiện cho việc vận chuyển than thì việc xây dựng nhà máy điện nguyên tử có ý nghĩa rất quan trong.4 Nhà máy điện dùng sức gió: Trong nhà máy này, người ta lợi dụng sức gió để quay một hệ thống cánh quạt và truyền động để quay máy phát điện. Khó khăn của nhà máy điện này là do tốc độ và hướng gió luôn luôn thay đổi, nên điều chỉnh tần số và điện áp gặp nhiều khó khăn. Giáo Trình Nhà Máy Điện và Trạm Biến áp 2 Trường Đại Học Công nghiệp Khoa Điện 1. Nhà máy điện dùng năng lượng mặt trời: Thực chất cũng là nhà máy nhiệt điện, trong đó lò than được thay thế bằng hệ thống kính thu nhận nhiệt năng của mặt trời.

Nhà máy điện dùng năng lượng mặt trời đầu tiên trên thế giới đã được xây dựng ở Liên Xô cũ với công suất 1. Ngoài ra còn có nhà máy điện dùng sức nước thủy triều là một nhà máy thủy điện sử dụng năng lượng thủy triều. Trạm tăng áp: Trạm tăng áp thường đặt ở các nhà máy điện có nhiệm vụ tăng điện áp từ điện áp máy phát đến điện áp cao hơn để truyền tải đến các hộ tiêu thụ ở xa. Trạm hạ áp: Trạm hạ áp đặt ở các hộ tiêu thụ, để biến đổi điện áp từ đại lượng cao hơn đến đại lượng thấp hơn thích hợp cho các hộ tiêu thụ điện.

Trạm biến đổi điện xoay chiều thành một chiều và ngược lại. Trạm phân phối điện: Gồm một số đường dây cung cấp và một số đường dây phân phối đến các hộ tiêu thụ. Các đường dây này có cùng điện áp như nhau, nên trong trạm phân phối không cần máy biến áp, ở đây chỉ đặt thanh góp, khí cụ điện đóng cắt, điều khiển.4 Đồ THỊ PHỤ TẢI 1.1 Định nghĩa và phân loại: Đặc điểm của sản xuất điện năng là sản xuất và tiêu thụ phải thực hiện đồng thời. Tại mỗi thời điểm, hộ tiêu thụ (kể cả tổn thất) tiêu thụ bao nhiêu điện năng thì nhà máy điện phải sản xuất ra ngần ấy điện năng.

Trong thực tế, tiêu thụ điện năng qua một ngày đêm thay đổi rất nhiều. Để vận hành kinh tế và đảm bảo, cần phải biết được quy luật biến thiên của phụ tải, để chuẩn bị chạy thêm các tổ máy khi phụ tải giảm. Quy luật biến thiên của phụ tải được biểu diễn trên hình vẽ, gọi là đồ thị phụ tải. Trên trục tung của đồ thị, biểu diễn công suất tác dụng, phản kháng hay công suất tòan phần bằng đơn vị có tên hay đơn vị tương đối với lượng cơ bản là công suất cực đại, trên trục hòanh của đồ thị biểu diễn thời gian bằng giờ hay ngày.

Có thể phân loại đồ thị phụ tải theo nhiều cách: + Theo công suất : Đồ thị phụ tải tác dụng, phản kháng, tòan phần. + Theo thời gian : Hàng ngày, hàng năm, mùa. + Theo vị trí trong hệ thống, của nhà máy điện, của trạm biến áp, của hộ tiêu thụ v.2 Cách vẽ đồ thị phụ tải: a. Đồ thị phụ tải hàng ngày: Giáo Trình Nhà Máy Điện và Trạm Biến áp 3 Trường Đại Học Công nghiệp Khoa Điện Để vẽ đồ thị phụ tải hàng ngày có thể dùng wm tự ghi là chính xác nhất.

Cũng có thể vẽ theo phương pháp từng điểm. nghĩa là cứ sau một khoảng thời gian nhất định ghi lại trị số phụ tải rồi biểu diễn từng điểm trên hệ trục tọa độ. Nối các điểm lại sẽ đường gãy khúc biểu diễn phụ tải một cách gần đúng.1) Phương pháp vẽ này tuy không chính xác, nhưng trong thực tế lại dùng rất phổ biến. Để cho việc tính tổn thất điện năng được thuận tiện, thực tế người ta biến đường gãy khúc thành đường bậc thang.

Khi biến đổi phải đảm bảo hai điều kiện: 1- Diện tích giới hạn bởi đường mới và đường cũ với trục tọa độ phải bằng nhau. 2- Các điểm cực đại và cực tiểu của đường cũ phải nằm trên đường mới. Để vẽ đồ thị phụ tải của nhà máy điện, người ta dùng phương pháp cộng đồ thị. Đồ thị phụ tải hàng ngày của nhà máy điện bằng tổng các đồ thị phụ tải của các hộ tiêu thụ, cộng với tổn thất máy biến áp và tự dùng.

Tổn thất trong máy biến áp gồm hai phần: 1- Tổn thất trong thép, không phụ thuộc vào sự biến thiên phụ tải và bằng 1-3% phụ tải cực đại. 2- Tổn thất đồng, phụ thuộc vào sự biến thiên phụ tải và bằng 6- 15 % phụ tải qua máy biến áp. Phụ tải tự dùng của nhà máy cũng gồm 2 phần: 1- Phần cố định không phụ thuộc vào phụ tải nhà máy và bằng 40% phụ tải tự dùng tổng. 2- Phần thay đổi theo đồ thị phụ tải nhà máy và bằng khỏang 60% phụ tải tự dùng (phụ thuộc vào công suất phát) Trong đó: Stdmax : Phụ tải cực đại St : Công suất phát của nhà máy tại thời điểm t SFđm : Công suất định mức của nhà máy.

Đồ thị phụ tải hàng năm: Để vẽ đồ thị phụ tải hàng năm phải căn cứ vào đồ thị phụ tải hàng ngày, thường người ta lấy một số ngày điển hình đại diện cho các ngày trong năm. Giáo Trình Nhà Máy Điện và Trạm Biến áp 4 Trường Đại Học Công nghiệp Khoa Điện Giả thiết một năm có 2 mùa, ta chọn một đồ thị phụ tải hàng ngày điển hình cho 180 ngày mùa hè (hình a) và một đồ thị điển hình cho 180 ngày mùa đông (hình b).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

<strong>Giáo trình nhà máy điện và trạm biến áp của Khoa Điện Trường Đại học Công nghiệp</strong> cung cấp hệ thống kiến thức toàn diện về nguyên lý vận hành, sơ đồ nối điện và các thiết bị phân phối trong mạng lưới năng lượng. Người học sẽ nắm vững phương pháp tính toán dòng ngắn mạch, lựa chọn khí cụ điện và giải pháp bảo vệ hệ thống tối ưu. Cuốn sách là cẩm nang hữu ích cho sinh viên khi làm đồ án <strong>thiết kế trạm biến áp</strong> đạt chuẩn kỹ thuật. Đồng thời, bạn đọc dễ dàng kết hợp tham khảo giáo trình <strong>phần điện nhà máy điện</strong> và mở rộng hiểu biết về quy trình <strong>sản xuất và phân phối điện</strong> phục vụ hiệu quả cho công việc.