CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài ở trong và ngoài nước − Trong những năm gần đây, bộ nghịch lưu nguồn áp (VSIs) đóng vai trò trong hệ thống phân phối công suất bởi vì chúng chuyển đổi nguồn công suất DC thành nguồn công suất AC để kết nối lưới. VSIs đa bậc có nhiều ưu điểm như là chất lượng điện năng tốt hơn, yêu cầu bộ lọc ngõ ra nhỏ hơn, điện áp đặt trên các khóa bán dẫn thấp hơn, điện áp và công suất có khả năng cao hơn và nhiễu điện từ thấp hơn (EMI) [1], [2]. VSIs ba bậc được sử dụng rộng rãi trong công nghiệp như trong hệ thống phân phối công suất, động cơ ac, xe điện lai, hệ thống năng lượng tái tạo, những nguồn cung cấp liên tục và những hệ thống bù StatCom [3]-[9].
Trong thực tế, VSIs thông thường chỉ cung cấp chuyển đổi công suất giảm áp bởi vì điện áp cực đại ngõ ra AC không thể cao hơn nguồn điện áp nguồn DC cho những ứng dụng hệ thống năng lượng tái tạo, nơi mà điện áp ngõ vào thấp cần được chuyển đổi thành điện áp ngõ ra AC mong muốn. Theo một số bài báo [10]-[14] những bộ chuyển đổi DC-DC được sử dụng để tăng điện áp ngõ vào (cho bộ chuyển đổi DC-AC). Tuy nhiên, các nghịch lưu tăng áp trong [10]-[14] chỉ cung cấp chuyển đổi công suất hai chặng mà việc chuyển đổi rất khó cho việc điều khiển. Mặt khác, trạng thái ngắn mạch (ST) việc mà cả hai khóa công suất trong một nhánh cùng dẫn trong một thời gian là không cho phép trong nghịch lưu tăng áp hai chặng bởi vì nó có thể nguyên nhân ngắn mạch trên điện áp tụ DC-link ( ngõ ra của bộ chuyển đổi DC-DC) và phá hủy thiết bị.
Nghịch lưu nguồn Z (ZSIs) đầu tiên được trình bày trong năm 2002, 2003 bởi Peng [15]-[21] nhằm khắc phục nhược điểm của các nghịch lưu thông thường. Trong [15] nguồn Z được chia thành hai mạng nguồn Z được kết nối với hai nguồn DC cách ly. Để cải tiến dòng điện ngõ vào và giảm các phần tử thụ động một mạng quasi Z source (qZSI) được đề xuất trong [22-24]. − Tuy nhiên, mạng nguồn Z và mạng qZSI sử dụng khá nhiều phần tử thụ động làm cho kích thước, trọng lượng và giá thành của thiết bị gia tăng.
Gần đây, nhiều nhà nghiên cứu đã phát triển nghịch lưu quasi-switched boost (qSBIs) được đề nghị trong [25], [26] để thay thế, bởi vì chúng sử dụng ít phần tử thụ động mà vẫn giữ được các tính năng như chịu đựng ngắn mạch, chuyển đổi công suất một chặng và có khả năng hoạt động tăng, giảm áp. So sánh với [15]-[21] nghịch lưu được trình bày trong [25], 8 Luan van [26] có nhiều hơn hai khóa tích cực nhưng giảm phần lớn các phần tử thụ động. Gần đây, nghịch lưu tăng áp 3 bậc hình T một nguồn được trình bày (1S3L-qSBI) [27]. Nghịch lưu áp 3 pha 3 bậc T-NPC ở nước ngoài − Các công trình nghiên cứu về nghịch lưu đa bậc xuất phát từ các phòng thí nghiệm của các nước Mỹ, Úc, Hàn Quốc, Trung Quốc…cũng chỉ theo hai hướng trên.
Các công trình tiêu biểu cho hướng nghiên cứu có thể kể đến là công trình của các tác giả sau: - P. Soon, “Pulsewidth- modulated Z-source neutral-point-clamped inverter,” IEEE Trans. Tác giả sử dụng nghịch lưu một chặng nguồn Z để tăng áp. - Minh-Khai Nguyen, Young-Cheol Lim, and Geum-Bae Cho, “Switched- Inductor Quasi-Z-Source Inverter,” IEEE Transactions on Power Electronics, Vol.
Tác giả sử dụng nghịch lưu một chặng giống nguồn Z để tăng áp nhằm cải thiện dòng điện lối vào. Nghiên cứu nghịch lưu áp 3 pha 3 bậc T-NPC ở Việt Nam − Điều khiển nghịch lưu 3 pha 3 bậc T-NPC đang được nghiên cứu ở các trường đại học toàn quốc, với khả năng kết hợp với Solar cell cung cấp điện xoay chiều 1 pha và 3 pha cho thiết bị dân dụng và thiết bị điện công nghiệp. Mặt khác việc sử dụng năng lượng gió, năng lượng thủy điện và năng lượng mặt trời là tính cấp bách. Đề tài nghịch lưu áp 3 pha 3 bậc T-NPC được ứng dụng trong thực tiễn là hiện thực.
Gần đây một số Tác giả đã nghiên cứu T-NPC ở trong nước điển hình như: − Nguyễn Đình Tuyên “Nghiên cứu điều chế độ rộng xung cho nghịch lưu ba pha ba bậc kiểu T (T-NPC) trong điều kiện sự cố” [5] đăng trên hội nghị Hội nghị - Triển lãm quốc tế lần thứ 4 về Điều khiển và Tự động hoá (VCCA 2017). Tác giả khắc phục sự cố bằng cách điều chế lại độ rộng xung để bổ xung biên độ bị mất đi. Tuy nhiên với cấu hình này điện áp ngõ ra sẽ thấp hơn điện áp ngõ vào và bộ nghịch lưu phải hoạt động trong hai chặng sẽ rất khó trong vấn đề điều khiển. Để khắc phục nghiên cứu của [5] 9 Luan van − Nguyễn Trung Hiếu, Nguyễn Minh Khai, Đỗ Đức Trí;.“A Fault-tolerant Z- source T-type Three-Level Inverter System,”.
Hội nghị triển lãm quốc tế lần 4 về điều khiển và tự động hóa VCCA 2017, 12 – 2017. Với bài báo này vừa điều khiển bộ nghịch lưu trong một chặng mà còn chịu lổi hở mạch khi một trong 3 pha bị lổi. 10 Luan van CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT CHO BỘ NGHỊCH LƯU ÁP 3 PHA 3 BẬC T-NPC 2.1 Cở sở lý thuyết về nghịch lưu 3 bậc tăng áp hình T 2.1 Cấu hình nghịch lưu truyền thống [1-14]: Hình 2.1 chỉ ra cấu hình (VSI) 3 pha gồm 12 khóa bán dẫn S1x-S4x. Tuy nhiên bộ nghịch lưu truyền thống như chỉ trong Hình 2.1 có điện áp xoay chiều ngõ ra nhỏ hơn điện áp nguồn một chiều ở ngõ vào, bên cạnh đó hai khóa bán dẫn đóng/ngắt trên cùng một nhánh (ví dụ S1x và S4x) không được đóng cùng lúc vì sẽ xảy ra làm hư hỏng thiết bị.
S1a S1b S1c D1a D1b D1c VC1 + D2a S3a - A Vdc D2b S3b + S2a D3a B - Load VPN S2b D3b D2c S3c C VC2 + - S2c D3c S4a D4a S4b D4b S4c D4c Hình 2.1: Bộ nghịch lưu hình T (T-Type) ba pha truyền thống Điện áp ngõ ra của nghịch lưu hình T thông thường được xác định là: M VPN vx M VC .1) 2 Với M là chỉ số điều chế. VC là điện áp trên tụ C. VPN điện áp trên thanh cái. Đối với những nguồn năng lượng mới, năng lượng tái tạo như pin mặt trời (PV), pin nhiên liệu (fuel cell)…, điện áp ngõ ra của các dạng năng lượng này là điện một chiều có giá trị điện áp thấp, không ổn định phụ thuộc theo thời gian, môi trường làm việc.
Sử dụng các nguồn năng lượng tái tạo này để chuyển đổi thành điện xoay chiều 220V/380V, đòi hỏi điện áp một chiều trước khi đưa vào bộ nghịch lưu phải có giá trị lớn hơn 310 VDC (giá trị điện áp đỉnh của 220 VAC). Điện áp một chiều có giá trị lớn có thể thực hiện bằng cách mắc nối tiếp các tấm pin điện áp thấp với nhau, đồng nghĩa với số lượng pin phải nhiều, lắp đặt trên diện tích rộng lớn. Điều này chỉ thích hợp với 11 Luan van hệ thống công suất lớn. Với những hệ thống công suất nhỏ, để tạo ra điện xoay chiều 220V/380 từ nguồn điện áp thấp, người ta thường dùng máy biến áp tần số thấp (50Hz) hay bộ tăng áp điện một chiều (DC-DC Boost Converter) để tăng điện áp xoay chiều ngõ ra.
KHỐI NGUỒN DC ( PIN NĂNG LƯỢNG BỘ NGHỊCH LƯU MÁY BIẾN ÁP TẢI XOAY MẶT TRỜI HAY DC-AC 50Hz CHIỀU ACQUY) 150-300VDC 110VDC 220/380VAC Hình 2.2: Sơ đồ khối của bộ nghịch lưu sử dụng máy biến áp tần số thấp 50Hz. Các tấm pin mặt trời hoặc pin nhiên liệu được nối với nhau tạo thành một dãy nguồn áp một chiều có điện áp thay đổi từ 150 V đến 300 V (tùy thuộc vào môi trường và điều kiện làm việc). Điện áp này sau khi qua bộ nghịch lưu sẽ có điện áp xoay chiều 110 V. Sau đó người ta dùng máy biến áp 50 Hz để nâng mức điện áp theo yêu cầu phía tải.
Đối với phương pháp dùng máy biến áp tần số thấp này sẽ cho hiệu quả không cao vì làm tăng kích thước, tạo nhiều sóng hài, nhiễu, hiệu suất làm việc thấp, không ổn định và ít được sử dụng. Phương pháp thứ hai dùng bộ tăng áp DC-DC như chỉ trong Hình 2.3 hiện đang được sử dụng rộng rãi. KHỐI NGUỒN DC ( PIN NĂNG LƯỢNG BỘ TĂNG ÁP BỘ NGHỊCH LƯU TẢI XOAY MẶT TRỜI HAY DC-DC DC-AC CHIỀU ACQUY) 150-300VDC 400VDC 220/380VAC Hình 2.3: Sơ đồ khối của bộ nghịch lưu sử dụng bộ tăng áp một chiều. Tuy nhiên các bộ nghịch lưu truyền thống có một vài nhược điểm đó là: + Sử dụng hai bộ biến đổi (DC-DC và DC-AC) làm tăng kích thước, giảm hiệu suất của toàn hệ thống.
+ Thêm bộ tăng áp DC-DC sẽ làm tăng giá thành, 12 Luan van + Thêm các thiết bị điều khiển đóng ngắt (IGBT, MOSFET…) và mạch lái để điều khiển các thiết bị đóng ngắt này. Để giải quyết các vấn đề còn tồn đọng của bộ nghịch lưu truyền thống, bộ nghịch lưu nguồn-Z (Z-source inverter) đã được đề xuất [14-20] với các đặc tính cơ bản: + Có khả năng tăng áp, giảm áp với một chặng chuyển đổi duy nhất (Single- Stage) DC – AC. + Cho phép cả hai khóa bán dẫn trên cùng một nhánh đóng cùng lúc. Do đó thời gian chết tạo ra trong quá trình chuyển mạch giữa các khóa được loại bỏ.
Vì thế độ méo dạng của điện áp ngõ ra (THD) được giảm.2 Bộ nghịch lưu nguồn -Z Hình 2.4 minh họa bộ nghịch lưu nguồn-Z [15]. Mạng nguồn-Z được nối vào giữa nguồn áp và bộ nghịch lưu. Mạng nguồn Z này bao gồm hai cuộn cảm có giá trị giống nhau, hai tụ điện có giá trị giống nhau và một diode. L1 D1 S1a S1b S1c Vdc C1 C2 S2a DC S2b 3-phase S3a filter & S2c Vdc S3b load DC S3c D2 S4a S4b S4c L2 Hình 2.4: Bộ nghịch lưu 3 bậc hình T nguồn-Z (ZST2I).
Mạch nghịch lưu ba bậc hình T nguồn Z sử dụng một mạch điện kháng gồm 2 tụ điện và 2 cuộn cảm được nối với nhau hình chữ X (như hình 2. Ưu điểm của cấu hình này: + Có khả năng tăng áp, giảm áp với một chặng chuyển đổi duy nhất (Single- Stage) DC – AC. + Cho phép cả hai khóa bán dẫn trên cùng một nhánh đóng cùng lúc. Do đó thời gian chết tạo ra trong quá trình chuyển mạch giữa các khóa được loại bỏ.
Vì thế độ méo dạng của điện áp ngõ ra (THD) được giảm. Tuy nhiên, nhược điểm của cấu hình này có dòng điện ngõ vào rất lớn khi tạo ra công suất ở ngõ ra cao.