CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẬT LIỆU COMPOSITE 1.1 Định nghĩa Composite là vật liệu được tổng hợp nên từ hai hay nhiều loại vật liệu khác nhau, nhằm mục đích tạo nên một vật liệu mới, ưu việt và bền hơn so với các vật liệu ban đầu [6]. Vật liệu composite bao gồm có vật liệu nền và cốt. Vật liệu nền đảm bảo việc liên kết các cốt lại với nhau, tạo cho vật liệu gồm nhiều thành phần có tính nguyên khối, liên tục, đảm bảo cho composite độ bền nhiệt, bền hoá và khả năng chịu đựng khi vật liệu có khuyết tật. Vật liệu nền của composite có thể là polyme, các kim loại và hợp kim, gốm hoặc các bon.Vật liệu cốt đảm bảo cho composite có các mođun đàn hồi và độ bền cơ học cao.
Các cốt của composite có thể là các hạt ngắn, bột, hoặc các sợi cốt như sơi thuỷ tinh, sợi polyme, sợi gốm, sợi kim loại và sợi các bon.2 Yếu tố ảnh hưởng đến tính chất composite Cơ tính của composite phụ thuộc vào: - Cơ tính của các vật liệu thành phần. - Tỷ lệ giữa các thành phần vật liệu. - Tác dụng tương hỗ của các vật liệu thành phần (đặc tính liên diện). - Luật phân bố của vật liệu cốt trong vật liệu composite (ngẫu nhiên hay có định hướng, phân bố đồng điều hay không đồng điều, hình thái kiến trúc của tổ hợp vật liệu cốt,…).
- Hình dạng và kích thước của vật liệu cốt. - Kỹ thuật gia công.3 Phân loại Có hai cách phân loại vật liệu composite chính: theo bản chất vật liệu nền hoặc theo hình dạng vật liệu cốt [6]. Phân loại theo vật liệu nền, ta có các loại sau: - Composite nền hữu cơ: nền là nhựa hữu cơ, cốt thường là sợi hữu cơ hoặc sợi khoáng hoặc sợi kim loại. - Composite nền kim loại: nền là các kim loại như titan, nhôm, đồng.
Cốt thường là sợi kim loại hoặc sợi khoáng như Bo, C, SiC… - Composite nền gốm: nền là các loại vật liệu gốm, cốt có thể là sợi hoặc hạt kim loại hoặc cũng có thể là hạt gốm. 3 Luận Văn Thạc Sĩ Huỳnh Hữu Đăng Khoa Phân loại theo vật liệu cốt, ta có các loại sau: - Composite cốt sợi: vật liệu cốt sợi thường có modulus đàn hồi cao. Sợi gia cường có thể ở dạng sợi dài liên tục hay sợi ngắn gián đoạn. - Composite cốt hạt: được sử dụng để cải thiện một số tính chất cơ lý theo ý muốn : độ cứng, cách điện, tính cách nhiệt, bền hoá chất… ngoài ra cốt hạt còn có tác dụng như chất độn, giúp giảm giá thành sản phẩm.
Vật liệu composite cốt hạt cũng dễ gia công hơn composite cốt sợi. - Việc lựa chọn vật liệu cốt dạng sợi hay dạng hạt tùy thuộc vào yêu cầu tính chất cơ - lý composite, bởi gia cường bằng dạng hạt thì độ bền nén cao hơn dạng sợi nhưng độ bền uốn lại kém hơn.4 Phương pháp gia công nhựa nhiệt dẻo a. Phương pháp đùn Máy đùn trục vít là phương pháp gia công chủ yếu cho nhựa nhiệt dẻo, các loại vật liệu có độ đàn hồi cao như cao su, đôi khi cũng gia công cho nhựa nhiệt rắn, vật liệu được đẩy liên tục qua một khe hở có tiết diện không đổi gọi là đầu tạo hình. Sản phẩm được định hình theo hai chiều (những sản phẩm có chiều dài liên tục), độ chính xác của sản phẩm phụ thuộc vào nhiều yếu tố, chế độ gia công (nhiệt độ, áp suất), sau khi ra khỏi đầu tạo hình kéo căng định hình hay có bộ phận tiếp nhận.hoặc kết hợp với nhiều bộ phận xử lý phôi đùn khác.
Máy đùn dùng để sản xuất những mặt hàng như: màng mỏng (film), tấm (sheet), sợi, thanh, ống, bọc cáp điện, các sản phẩm rỗng v. Máy đùn trục vít có thể phân thành nhiều loại: - Phân loại theo tính năng công dụng: gia công sản phẩm hay dùng để trộn nguyên liệu. - Phân loại theo số vít: máy đùn có thể có 1 vít hay (2 hoặc 3 vít) hoặc đa trục vít, các vít có thể quay cùng chiều hay ngược chiều nhau do cơ cấu truyền động. Máy đùn nhiều trục vít thông thường không dùng để định hình mà dùng để trộn vật liệu.
4 Luận Văn Thạc Sĩ Huỳnh Hữu Đăng Khoa Hình 1. Phương pháp ép phun Ép phun (đúc dưới áp suất hay đúc tiêm) là phương pháp gia công chủ yếu trong công nghiệp gia công polymer, các nhựa nhiệt dẻo thường được gia công bằng phương pháp này. Sản phẩm gia công có kích thước khá chính xác theo 3 chiều vì được tạo hình trong khuôn kín. Quá trình gia công gồm hai quá trình: nhựa hóa trong xy lanh nguyên liệu, tạo hình trong khuôn.
Quá trình tạo hình chỉ tiến hành khi làm khít 2 nửa khuôn lại với nhau. Tùy theo nguyên liệu đúc chế độ nhiệt độ của khuôn đúc khác nhau (nhựa nhiệt dẻo khác nhựa nhiệt rắn). Vật liệu chảy vào khuôn qua các rãnh, cửa tiết diện nhỏ. Khi vùng tạo hình của khuôn đã được lấp đầy nguyên liệu thì khuôn mới chịu tác dụng của lực ép.
Ưu điểm: năng suất cao, chu kỳ ngắn, gia công bằng phương pháp ép phun tiết kiệm được nhiều nguyên liệu, ít tốn công hoàn tất. Nhược điểm: Quá trình ép phun không ổn định về nhiệt độ và áp suất. Đây là một đặc điểm không thuận lợi của phương pháp và chất lượng sản phẩm chịu ảnh hưởng rất lớn của đặc điểm này. 5 Luận Văn Thạc Sĩ Huỳnh Hữu Đăng Khoa Hình 1.2 Máy ép phun Ngoài các phương pháp phổ biến kể trên, còn rất nhiều phương pháp gia công composite khác như phương pháp đúc áp suất, đúc ly tâm, phương pháp trộn, phương pháp pultrusion, quấn sợi… 6 Luận Văn Thạc Sĩ Huỳnh Hữu Đăng Khoa CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VẬT LIỆU COMPOSITE TRO TRẤU VÀ NHỰA PP 2.1 Sơ lược composite cốt hạt Composite gia cường hạt là composite được gia cường bởi các hạt có dạng (hình cầu, que, vảy…) những nguyên liệu có thể làm cốt như bột gỗ, than đen, bột talc, cao lanh, mica… Các vật liệu gia cường có kích cỡ macro, micro hoặc nano và thường có độ cứng cao hơn vật liệu nền.
Một số vật liệu gia cường dạng hạt có thể cải thiện các tính chất composite như giảm độ co ngót, kháng mài mòn, chịu nhiệt…Tuy nhiên, khả năng cải thiện tính chất cơ lý của vật liệu gia cường dạng hạt thường bé hơn rất nhiều so với vật liệu gia cường dạng sợi và phụ thuộc rất nhiều vào sự liên kết giữa bề mặt phân chia pha. Chính vì vậy vật liệu composite cốt hạt thường được dùng trong các ứng dụng yêu cầu về độ bền không cao. Trong nhiều trường hợp các hạt được sử dụng nhằm mục đích làm giảm giá thành và tăng độ cứng sản phẩm.2 Vật liệu composite tro trấu và nhựa Polypropylene 2. Giới thiệu Nhựa PP một trong những polyme nhiệt dẻo thông dụng, do PP có giá thành thấp, có thể tái sinh được, độ bền cao, độ ổn định nhiệt cao và được dùng làm pha nền cho một số loại composite, đặc biệt là composite thân thiện với môi trường [33].
Công thức phân tử Cấu trúc: PP tồn tại ba cấu trúc không gian cơ bản là Syndiotactic, Isotactic, Atactic. Trong đó syndiotactic, isotactic là cấu trúc kết tinh (d = 0.91 g/cm3) còn atactic là cấu trúc không kết tinh (d = 0. 7 Luận Văn Thạc Sĩ Huỳnh Hữu Đăng Khoa Hình 2.1 Cấu trúc của polypropylene b. Một số đặc tính quan trọng của polypropylene Kháng hóa chất: bazơ và a xít loãng khó phản ứng với polypropylene, do đó nó là lựa chọn tốt cho các thùng chứa chất lỏng như vậy, chẳng hạn như chất tẩy rửa, sản phẩm sơ cấp cứu… Tính đàn hồi và dai: Polypropylene thể hiện tính đàn hồi trong một phạm vi nhất định (giống như tất cả các chất liệu khác), nhưng nó cũng sẽ trải qua biến dạng dẻo rất sớm trong quá trình biến dạng, vì vậy nó thường được coi là vật liệu "dai".
Dẻo dai là một thuật ngữ kỹ thuật được định nghĩa là khả năng của vật liệu biến dạng (dẻo, không phải đàn hồi) mà không bị phá vỡ. Tính kháng mỏi: Polypropylene giữ hình dạng của nó sau khi bị xoắn, uốn, bẻ cong. Do tính chất đặc biệt có gia trị này polypropylene có thể được dùng làm khớp nối. Cách điện: polypropylene có khả năng kháng điện cao, do đó nó có thể được dùng làm vỏ bọc dây cáp điện.
Khả năng truyền qua của ánh sáng:Mặc dù Polypropylene có thể làm ở dạng trong suốt, nhưng nó thường được tạo ra có màu đục tự nhiên. Polypropylene có 8 Luận Văn Thạc Sĩ Huỳnh Hữu Đăng Khoa thể được sử dụng cho các ứng dụng trong đó sự truyền ánh sáng là quan trọng hoặc cần độ thẩm mỹ. Nếu yêu cầu độ truyền qua cao thì Acrylic hoặc Polycarbonate là sự lựa chọn tốt hơn. Tính chất nhiệt: Polypropylene là loại nhựa bán kết tinh có nhiệt độ chảy lỏng (160-170oC).
Ở nhiệt độ155oC, PP còn ở thể rắn nhưng đến gần nhiệt độ chảy lỏng, PP chuyển sang trạng thái mềm cao. Khi giảm từ nhiệt độ nóng chảy về 120oC, PP bắt đầu kết tinh lại. Tính chất hóa học: ở nhiệt độ thường, PP không tan trong các dung môi hữu cơ, trương trong hydrocacbon thơm và clo hóa, khi nhiệt độ lớn hơn 800C thì PP bắt đầu tan trong hai loại dung môi trên. Các tính chất khác: tính chất cơ học PP phụ thuộc vào khối lượng phân tử trung bình, độ đồng đều và hàm lượng polymer atactic.
Nếu hàm lượng polymer atactic giảm và khối lượng phân tử trung bình tăng thì tính chất của polymer tăng. Một vài ứng dụng của polypropylene Dùng làm bao bì một lớp chứa đựng bảo quản thực phẩm, không yêu cầu chống oxy hóa một cách nghiêm ngặt. Tạo thành sợi, dệt thành bao bì đựng lương thực, ngũ cốc có số lượng lớn. PP cũng được sản xuất dạng màng phủ ngoài đối với màng nhiều lớp để tăng tính chống thấm khí, hơi nước, tạo khả năng in ấn cao, và dễ xé rách để mở bao bì (do có tạo sẵn một vết đứt) và tạo độ bóng cao cho bao bì.
Dùng làm chai đựng nước, bình sữa cho bé, hộp bảo quản thực phẩm Một số sản phẩm làm từ nhựa PP có khả năng chịu nhiệt tốt dùng được trong lò vi sóng. Một vài nhà sản xuất nhựa PP trên thế giới Bảng 2.1 Một số nhà sản xuất polypropylene trên thế giới [44] Nhà sản xuất Tên thương mại của sản phẩm Arkema Appryl® BASF Neopolen® Dow Chemical INSPIRE™ DuPont Bynel® Exxon Chemical Achieve™ Mitsubishi Lemalloy® PolyOne Corporation Edgetek® 9 Luận Văn Thạc Sĩ Huỳnh Hữu Đăng Khoa Polypropylen tuy có nhiều ưu điểm nhưng độ cứng không cao, khả năng chịu nhiệt chỉ ở mức độ vừa phải.