Đặt vấn đề Khả năng tổn thương và sinh kế đã và đang là mối quan tâm hàng đầu của các nhà nghiên cứu, các nhà hoạch định chính sách phát triển ở nhiều quốc gia. Bởi vì mục tiêu cao nhất đối với quá trình phát triển của một nước là nhằm hạn chế tổn thương, cải thiện sinh kế và nâng cao phúc lợi xã hội cho cộng đồng dân cư, đồng thời phải luôn đặt nó trong mối quan hệ phát triển bền vững. Những năm gần đây, xu hướng biến đổi khí hậu (BĐKH), hiện tượng thời tiết cực đoan, thiên tai nguy hiểm xảy ra với tần suất, quy mô và cường độ ngày càng khó lường như mưa bão, giông tố, lốc xoáy, lũ lụt, nắng nóng kéo dài, xâm nhập mặn, nước biển dâng, đã làm ảnh hưởng đến môi trường và nhiều ngành sản xuất như nông nghiệp, công nghiệp, đánh bắt, nuôi trồng, chế biến thủy sản. Những thay đổi này, tác động không nhỏ đến đời sống con người, gây nên bệnh tật, nghèo đói, mất tài sản,.
đã và đang ảnh hưởng các hoạt động và nguồn lực sinh kế của nhiều người dân, nhất là ngư dân vùng biển, đảo, nơi đa số người dân sống phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên biển như là nguồn sinh kế chính. Kiên Hải, là một trong 2 huyện đảo thuộc tỉnh Kiên Giang, nằm trong vùng biển Tây Nam của Tổ quốc, với 23 hòn đảo lớn nhỏ, dân số trên 21.000 người đang sinh sống trên các đảo, với các ngành nghề chủ yếu: đánh bắt, nuôi trồng, chế biến thủy hải sản; trồng trọt, chăn nuôi; thương mại, dịch vụ và du lịch,… Trong thực tế, cuộc sống ngư dân nơi đây luôn tìm ẩn nhiều yếu tố bất lợi và khả năng tổn thương cao như: hệ thống tàu thuyền của ngư dân còn rất thô sơ, có đến 99% tàu cá đóng từ vật liệu gỗ; có 85% sử dụng động cơ, thiết bị cũ; số lượng tàu cá nhỏ dưới 90CV khai thác gần bờ còn khá nhiều. Bên cạnh đó, đa số lao động trên tàu đánh cá là lao động phổ thông, chưa qua đào tào nghề; mức độ liên kết của ngư dân chưa thật sự chặt chẽ, vẫn còn tình trạng ngư dân sản xuất đơn lẻ, thiếu vốn, không được hỗ trợ khi gặp sự cố trên biển. Hạ tầng phục vụ khai thác, chế biến hải 2 sản còn nhiều hạn chế; có nơi chưa có khu neo đậu tránh trú bão, nên ngư dân không an tâm ra khơi khi mưa to, gió lớn.
Mặt khác, trong điều kiện BĐKH, thời tiết cực đoan như mưa bão, giông tố, nắng nóng, thiếu nước ngọt, triều cường, dịch bệnh; sự cạn kiệt nguồn lợi thủy hải sản, các chính sách, quy định cấm khai thác đánh bắt một số ngành nghề theo mùa vụ, biến động giá cả thủy hải sản,… sẽ tác động đến đời sống ngư dân trên đảo, làm cho họ dễ bị tổn thương, cuộc sống họ trở nên bất ổn, nguồn sinh kế của họ bị đe dọa. Sự gia tăng các rủi ro từ BĐKH là một trong những áp lực làm tăng khả năng bị tổn thương của những sinh kế dựa vào các nguồn tài nguyên thiên nhiên tại cộng đồng ven biển, do năng lực thích ứng hạn chế và thường sinh sống ở những vùng địa lý dễ bị tổn thương nhất bởi thiên tai, trong khi thiếu những nguồn lực cần thiết để đương đầu với những rủi ro này. Hơn nữa, người dân thường làm việc trong lĩnh vực nhạy cảm với điều kiện BĐKH như nông nghiệp, khai thác, nuôi trồng thủy sản và hầu như không có cơ hội để chuyển đổi nghề nghiệp. Điều đó cho thấy khả năng tổn thương sinh kế của ngư dân trước những tác động ngày càng lớn của BĐKH là hiện hữu, cần những hành động, biện pháp thích ứng cụ thể nhằm giảm thiểu thiệt hại, hướng đến sinh kế bền vững cho ngư dân.
Tuy nhiên, cho đến nay có rất ít nghiên cứu về khả năng tổn thương và sinh kế của họ một cách toàn diện. Trong ngữ cảnh BĐKH được dự đoán sẽ tiếp tục khuyếch đại và làm trầm trọng hơn những áp lực hiện tại đối với vùng ven biển, từ đó làm tăng thêm các thách thức về quản lý bền vững vùng ven biển; đồng thời gia tăng những áp lực làm tăng khả năng tổn thương và sinh kế của cộng đồng ven biển (Trần Thọ Đạt và Vũ Thị Hoài Thu, 2012). Các nguồn lực, chiến lược, kết quả sinh kế của người dân trên đảo rồi sẽ ra sao? Cuộc sống của họ có được đảm bảo? Chính điều đó tác giả chọn đề tài nghiên cứu “Khả năng tổn thương và sinh kế của ngư dân huyện đảo Kiên Hải trong điều kiện biến đổi khí hậu” cho luận văn thạc sĩ chuyên ngành quản lý kinh tế của mình.2- Mục tiêu nghiên cứu 1.1- Mục tiêu chung. Nhằm tìm hiểu thực trạng, xu hướng BĐKH, tác động đến nguồn lực sinh kế của ngư dân huyện đảo và đánh giá khả năng thích ứng của họ, từ đó tìm kiếm các giải pháp, chính sách để gia tăng chiến lược sinh kế phù hợp, giảm thiểu các rủi ro, tổn thương để giúp ngư dân huyện đảo Kiên Hải phát triển sinh kế bền vững.2- Mục tiêu cụ thể.
Phân tích các nguồn lực sinh kế (vốn con người, vốn tự nhiên, vốn tài chính, vốn vật chất và vốn xã hội) và khả năng tổn thương của ngư dân trong điều kiện BĐKH. Đánh giá năng lực thích ứng và hoạt động thích ứng với những sinh kế cụ thể của ngư dân trong điều kiện BĐKH. Đề xuất các hàm ý chính sách nhằm gia tăng chiến lược sinh kế phù hơp, nâng cao khả năng thích ứng với BĐKH, giảm thiểu các tổn thương và hướng đến phát triển sinh kế bền vững cho ngư dân huyện đảo.3- Câu hỏi nghiên cứu Thực trạng nguồn lực sinh kế của ngư dân vùng biển đảo Kiên Hải như thế nào? Ngư dân huyện đảo sẽ thích ứng ra sao trong điều kiện BĐKH ngày càng gia tăng? Chính quyền các cấp cần những giải pháp, chính sách gì nhằm giảm thiểu khả năng tổn thương và tăng cường sinh kế bền vững cho ngư dân huyện đảo? 4 1.4- Ý nghĩa của nghiên cứu Trên cơ sở phân tích khoa học, luận văn hy vọng thống kê mô tả được đầy đủ nhất những tác động của biến đổi khí hậu đối với các nguồn lực sinh kế của ngư dân, để thấy được những thay đổi trong chiến lược sinh kế và những kinh nghiệm của ngư dân trong việc đối phó hoặc thích ứng với BĐKH. Kết quả nghiên cứu được kỳ vọng có giá trị tham khảo đối với các nhà hoạch định chính sách ở địa phương, cung cấp một gốc nhìn khác về tác động của BĐKH đối với sinh kế ngư dân huyện đảo.5- Phạm vi nghiên cứu Giới hạn thời gian nghiên cứu: giai đoạn từ năm 2006-2015 (10 năm) Không gian nghiên cứu: 4 xã của Huyện đảo Kiên Hải – tỉnh Kiên Giang Phương pháp thu thập dữ liệu: Điều tra phỏng vấn trực tiếp 160 hộ dân theo mẫu câu hỏi thiết kế sẵn và phỏng vấn nhanh một số hộ dân và cán bộ địa phương am hiểu chủ đề nghiên cứu.6- Giới hạn của đề tài Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu sinh kế của những ngư dân khai thác, nuôi trồng thủy hải sản và nông nghiệp vì đây là 3 dạng sinh kế chính của người dân huyện đảo, đang chịu nhiều tổn thương từ yếu tố tự nhiên và BĐKH, không nghiên cứu hết các dạng sinh kế khác.
Tương tự như vậy, đề tài chỉ khảo sát 160 hộ của 4 xã (An Sơn, Nam Du, Lại Sơn, Hòn Tre) thuộc huyện Kiên Hải để tìm hiểu xu hướng BĐKH, sinh kế ngư dân và khả năng thích ứng của ngư dân trong điều kiện khí hậu thay đổi, không điều tra hết tất cả các hộ dân. Đề tài cũng không thể nghiên cứu hết các thuộc tính và tác động của BĐKH mà chỉ tập trung vào những hiện tượng phổ biến nơi địa bàn nghiên cứu như: bão, áp thấp, mưa giông bất thường, nắng hạn kéo dài, triều cường, hạn hán. Để thấy 5 được các nguồn lực sinh kế của ngư dân chịu ảnh hưởng như thế nào trong điều kiện khí hậu thay đổi. Mặc dù tác giả đã cố gắng nghiên cứu tìm đọc tài liệu có liên quan đến BĐKH và sinh kế ngư dân ven biển, nhưng do còn nhiều hạn chế về tư liệu và khả năng phân tích tổng hợp, số liệu điều tra phỏng vấn nên đề tài không trách khỏi những thiếu sót, tác giả mong nhận được sự góp ý chân thành của quí thầy, cô để luận văn được hoàn chỉnh.
6 CHƯƠNG II TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN Nội dung Chương 2 nhằm cung cấp cơ sở lý thuyết và thực tiễn về khả năng tổn thương và sinh kế của ngư dân trong điều kiện BĐKH, trong đó tập trung giới thiệu các khái niệm liên quan đến khả năng tổn thương, sinh kế và sinh kế bền vững, khung lý thuyết sinh kế của DFID, khái niệm về biến đổi khí hậu và lược khảo các nghiên cứu khoa học có liên quan.1- Một số khái niệm và thuật ngữ liên quan 2.1- Khả năng tổn thương (Vulnerability) Các học giả với các chuyên môn khác nhau đã đưa ra những định nghĩa khác nhau về khả năng tổn thương, phụ thuộc vào mục tiêu nghiên cứu mà họ đang thực hiện cũng như phương pháp nghiên cứu mà họ áp dụng (Deressa và cộng sự 2008). Chính vì vậy có rất nhiều định nghĩa về khả năng tổn thương: Các nghiên cứu về thảm họa tự nhiên và dịch tễ học đã định nghĩa sự tổn thương là mức độ mà một cá thể bị làm tổn hại do phải đối mặt với một tình trạng căng thẳng, đặt trong mối liên hệ với khả năng của cá thể đó để đối phó, phục hồi hoặc thích nghi (Kasperson và cộng sự 2001). Ủy ban Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu (IPCC, 2001) định nghĩa sự tổn thương do BĐKH là mức độ mà một hệ thống bị tổn hại hoặc không có khả năng để đối phó với những tác động có hại của BĐKH. Cũng theo IPCC, sự tổn thương là một hàm số của mức độ tiếp xúc của một hệ thống với các hiện tượng khí hậu cực đoan, độ nhạy cảm và khả năng thích nghi của chính hệ thống này.
Trong điều kiện biến đổi khí hậu, khả năng tổn thương là mức độ mà một hệ thống (tự nhiên, kinh tế, xã hội) có thể bị tổn thương do biến đổi khí hậu hoặc không có khả năng thích ứng trước những bất lợi của BĐKH (Bộ Tài nguyên & Môi trường, 2008, tr.