Chương 1: Giới thiệu đề tài. Chương này giới thiệu tổng quan về lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa của đề tài và kết cấu của luận văn. Chương 2: Cơ sở lý thuyết. Chương này nêu ra các khái niệm về tín dụng, khái niệm về hộ kinh doanh cá thể, trình bày lý thuyết thông tin bất cân xứng và các nghiên cứu trước.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương này trình bày phương pháp thu thập dữ liệu, phương pháp phân tích số liệu, phương pháp chọn mẫu, mô hình tổng quát và mô hình nghiên cứu cụ thể. Chương 4: Thực trạng cấp tín dụng chính thức và khả năng tiếp cận vốn tín dụng chính thức của hộ KDCT tại Bình Dương. Chương 5: Phân tích kết quả nghiên cứu.
Chương này mô tả phân tích thống kê dữ liệu nghiên cứu, kết quả phân tích mô hình kinh tế lượng. Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận tín dụng của hộ KDCT trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Chương 6: Kết luận và kiến nghị. Chương này nêu ra những kết luận thông qua kết quả nghiên cứu và kiến nghị chính sách cần thiết, cũng như nêu lên những hạn chế của nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo.
Trang 4 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT Chương 2 trình bày các khái niệm về tín dụng, tiếp cận tín dụng, khái niệm về hộ kinh doanh cá thể, lý thuyết thông tin bất cân xứng, các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận TDCT và các nghiên cứu trước.1 Khái niệm về tín dụng Tín dụng là một phạm trù kinh tế ra đời và tồn tại qua nhiều hình thái kinh tế xã hội. Trong nhiều ngôn ngữ, như tiếng Pháp và Anh, chữ crédict/credict (từ gốc La tinh credere có nghĩa là tin cậy) cũng có nghĩa là tín dụng, uy tín và tín nhiệm, dựa trên sự tin tưởng tín nhiệm đó sẽ thực hiện các quan hệ vay mượn một lượng giá trị biểu hiện dưới hình thái tiền tệ hoặc vật chất trong một thời gian nhất định, ngay cả những giá trị vô hình như tiếng tăm, uy tín để đảm bảo, bảo lãnh cho sự vận động của một lượng giá trị nào đó (Sử Đình Thành, 2006). T h e o Sử Đình Thành (2006), đưa ra khái niệm tổng quát về tín dụng như sau: “Tín dụng là một phạm trù kinh tế chỉ mối quan hệ vay mượn dựa trên nguyên tắc có hoàn trả cả vốn gốc và lãi sau một thời gian nhất định”.2 Tín dụng chính thức Tín dụng chính thức là những khoản tín dụng được cung cấp bởi các định chế tài chính chính thức. Theo Đinh Phi Hổ (2008), định chế tài chính chính thức là những tổ chức kinh doanh tiền tệ đăng ký hoạt động theo pháp luật của nhà nước, chịu trách nhiệm nộp các khoản thuế theo qui định của nhà nước.
Về mặt lý thuyết, thị trường tín dụng chính thức bao gồm cung và cầu tín dụng. Cầu tín dụng được xác lập dựa trên các đặc điểm của hộ, như là các đặc điểm nhân khẩu học và kinh tế - xã hội; và cung tín dụng được định nghĩa là số tiền mà các nhà cung cấp quyết định cho vay dựa trên những thông tin sẵn có về nhu cầu vay. Các tổ chức tín dụng sẽ quyết định cấp toàn bộ hoặc giảm số tiền cho vay hoặc hoàn toàn bác bỏ yêu cầu xin vay (Zeller, 1994).3 Tiếp cận tín dụng 2.1 Nhƣ thế nào đƣợc gọi là tiếp cận Cần có một quan điểm rõ ràng là bởi vì gắn liền với các giải pháp mở rộng khả năng tiếp cận tín dụng là các phản ứng từ phía chính sách sao cho phù hợp. Có những Trang 5 quan điểm khác nhau về tiếp cận tín dụng.
Có quan điểm cho rằng tiếp cận không đồng nghĩa với sử dụng, Theo Beck (2009), “Tiếp cận với các dịch vụ tài chính không phải là đồng nghĩa với việc sử dụng các dịch vụ tài chính. Tác nhân kinh tế có thể có tiếp cận với các dịch vụ tài chính, nhưng có thể quyết định không sử dụng chúng, hoặc do các lý do văn hóa - xã hội, hoặc bởi vì chi phí cơ hội là quá cao”. Như vậy, khách hàng có nhu cầu về dịch vụ tín dụng, đã tìm hiểu về dịch vụ tín dụng của ngân hàng - có nghĩa là có tiếp cận với dịch vụ tín dụng, song do chi phí cao nên quyết định không vay ngân hàng cũng vẫn được coi là đã tiếp cận dịch vụ tín dụng. Tuy nhiên trong phạm vi đề tài nghiên cứu tác giả cho rằng việc nghiên cứu tiếp cận theo quan điểm có sử dụng vốn tín dụng sẽ có ý nghĩa hơn bởi lẽ nếu chỉ dừng ở hiểu về vốn tín dụng thì không chỉ rất khó đánh giá mà không cho biết được con số thực sự số lượng người đã tiếp cận và sử dụng vốn tín dụng để từ đó có những giải pháp phù hợp.2 Sự cần thiết phải mở rộng mức độ và khả năng tiếp cận vốn tín dụng Việc mở rộng mức độ và khả năng tiếp cận vốn tín dụng chính thức không chỉ có ý nghĩa đối với bản thân các tổ chức tín dụng mà còn có ý nghĩa về mặt xã hội.
Tiếp cận vốn tín dụng chính thức một mặt góp phần nâng cao mặt bằng dân trí và vấn đề quan trọng là mở ra cho người dân, cho các hộ gia đình, các doanh nghiệp khả năng tiếp cận với nguồn vốn chính thức với mức giá phù hợp để đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, để cải thiện và nâng cao đời sống về mặt kinh tế - xã hội. Trong bài viết về “Dân nghèo cần được tiếp cận dịch vụ ngân hàng” Beck (2009) có viết “Nghiên cứu mới nhất của Ngân hàng Thế giới (WB) cho biết 3/4 số dân nghèo trên thế giới hiện chưa tiếp cận các dịch vụ ngân hàng chủ yếu do chi phí cao, khoảng cách xa về địa lý và các thủ tục giấy tờ liên quan đến mở tài khoản ở ngân hàng”, nghiên cứu của WB nhấn mạnh “những người nghèo không tiếp cận được các dịch vụ ngân hàng buộc phải phụ thuộc vào những người cho vay lãi suất cao, gặp khó khăn khi muốn bắt đầu công việc kinh doanh hoặc không được bảo hiểm tai nạn từ các biến cố”. Mặc dù nghiên cứu không phải là mới song nó đã phản ánh hiện trạng thực tế về những khó khăn khi không tiếp cận được dịch vụ ngân hàng mà người dân gặp phải. Trong một nghiên cứu của mình ông Đinh Thế Hiển, Giám đốc Viện Nghiên cứu tin học và kinh tế ứng dụng cho biết “Mặc dù các ngân hàng trong những năm gần đây đã có nhiều nỗ lực trong Trang 6 việc đa dạng hóa các loại hình sản phẩm dịch vụ, tuy nhiên mức độ tiếp cận dịch vụ ngân hàng tại Việt Nam vẫn còn thấp so với khu vực và thế giới.
Mức độ phân bổ các chi nhánh, phòng giao dịch không đồng đều, chủ yếu tập trung tại thành thị, quy mô phòng giao dịch, thậm chí chi nhánh còn chưa xứng tầm. Đối với khách hàng cá nhân, tỷ lệ tiếp cận và sử dụng dịch vụ ngân hàng còn ở mức khiêm tốn. Phương thức giao dịch chủ yếu vẫn là giao dịch trực tiếp tại quầy, giao dịch thông qua hệ thống điện tử chưa phổ biến. Mảng kinh doanh thẻ và thanh toán không dùng tiền mặt vẫn chưa phát triển rộng rãi.
Các ứng dụng trong việc sử dụng thẻ chưa đa dạng, mức độ liên minh giữa các ngân hàng trong hệ thống thẻ (Smartlink) chưa cao, gây khó khăn và bất tiện cho người sử dụng” (Đinh Thế Hiển, 2011).3 Mức độ tiếp cận tín dụng Mức độ tiếp cận tín dụng có thể được nhìn nhận thông qua hai góc độ: độ rộng tiếp cận và độ sâu tiếp cận. - Độ rộng tiếp cận: Độ rộng tiếp cận đo lường mức độ tiếp cận của dịch vụ tín dụng đối với khách hàng trên diện rộng, được đánh giá thông qua sự đa dạng hóa trong sản phẩm dịch vụ cung ứng; số lượng và mức độ tăng trưởng của khách hàng; của dư nợ tín dụng. Số lượng dịch vụ cung ứng càng lớn, mức độ tăng trưởng qua các năm hoặc một thời k càng tăng chứng tỏ dịch vụ của tổ chức tín dụng (TCTD) càng đa dạng. Tương tự, nếu số lượng khách hàng tăng cả về con số tuyệt đối và tương đối, dịch vụ do TCTD cung ứng đã đạt được mức tiếp cận rộng hơn đối với khách hàng.
Các giá trị tăng trưởng tuyệt đối và tương đối của dư nợ tín dụng cũng cho kết luận tương tự về độ rộng tiếp cận của các dịch vụ tín dụng chính thức. Không có giới hạn chuẩn cho những tiêu chí này, tùy thuộc vào từng quốc gia mà sự phát triển chiều rộng được đánh giá nếu như mọi quy mô hoạt động tăng trưởng nhanh, liên tục về số lượng. - Độ sâu tiếp cận Nghiên cứu về độ sâu tiếp cận dịch vụ tín dụng, tác giả tham khảo các chỉ tiêu đo lường được áp dụng trong nghiên cứu tiếp cận tín dụng chính thức của các TCTD. Độ sâu tiếp cận đo lường khả năng các khách hàng khác nhau có thể tiếp cận vốn tín dụng chính thức, cũng như giá trị ròng mà khách hàng nhận được.
Tuy vậy, các chỉ Trang 7 tiêu đo lường độ sâu của tiếp cận trực tiếp thông qua sự thay đổi ròng của giá trị thu nhập và tài sản khách hàng sau khi tiếp cận dịch vụ tín dụng rất khó xác định. Vì vậy các chỉ tiêu gián tiếp đơn giản hơn được sử dụng để đo lường độ sâu tiếp cận tới các nhóm khách hàng mục tiêu bao gồm: M mức vay trung bình thấp nghĩa là nhiều khách hàng có thu nhập thấp đã được vay tại các TCTD, vì đối với các khách hàng khu vực nông thôn nhu cầu vay vốn thường có giá trị thấp. Quy mô món vay trung bình/GDP bình quân đầu người được coi như một chỉ tiêu dùng để so sánh độ sâu của tiếp cận đến các khách hàng của một TCTD. Mức cho vay trung bình Quy mô món cho = vay trung bình GDP bình quân đầu người Tỷ lệ này càng thấp chứng tỏ mức độ tiếp cận của TCTD càng sâu.
Đây là chỉ số được ưa thích vì tính toán đơn giản và có thể sử dụng để so sánh xuyên quốc gia và được sử dụng để xác định độ sâu tiếp cận dịch vụ của các TCTD. Theo chuẩn quốc tế về độ sâu tiếp cận dịch vụ tín dụng thì tỷ lệ này dưới 20%, với tỷ lệ này TCTD đã phục vụ tầng lớp khách hàng nghèo (tầng đáy).