Đặt vấn đề Trong điều kiện biến đổi khí hậu cùng với sự nóng lên toàn cầu thì xâm nhập mặn đang là một vấn đề hết sức nghiêm trọng đối với ngành nông nghiệp toàn cầu vì nó tác động trực tiếp đến sinh trƣởng, phát triển, năng suất cũng nhƣ chất lƣợng của cây trồng. Trong khi đất nông nghiệp càng ngày càng thu hẹp thì ngƣợc lại dân số thế giới ngày càng tăng, nhu cầu lƣơng thực ngày càng cao, theo dự báo sản xuất lƣơng thực trên toàn thế giới cần phải tăng tới 38% vào năm 2025 và lên đến 57% vào năm 2050 (Abrol, 2004). Để giải quyết vấn đề này, ngoài việc sử dụng các kỹ thuật nhân giống truyền thống và kỹ thuật di truyền thực vật để sản xuất cây chuyển gen thì việc sử dụng vi khuẩn chịu mặn có khả năng thúc đẩy tăng trƣởng thực vật có thể là một chiến lƣợc hữu ích trong việc tạo điều kiện cho cây trồng phát triển. Halophiles (sinh vật ƣa mặn) là những sinh vật phát triển mạnh trong môi trƣờng có hàm lƣợng muối cao bằng cách cân bằng áp suất thẩm thấu của môi trƣờng để chống lại tác động biến tính của muối.
Hầu hết các vi khuẩn ƣa mặn đều thuộc vi khuẩn cổ, nhƣng cũng có những vi khuẩn ƣa mặn thuộc vi khuẩn và sinh vật nhân chuẩn, chẳng hạn nhƣ tảo Dunaliella salina hoặc nấm Wallemia ichthyophaga. Do đó, vi khuẩn ƣa mặn bao gồm vi khuẩn cổ, vi khuẩn và sinh vật nhân chuẩn và các loài sinh vật phát triển có các đặc điểm sinh lý khác nhau để đáp ứng với nhiều nồng độ muối khác nhau.(Reang et al., 2022) Một số lƣợng đáng kể vi khuẩn ƣa mặn đã đƣợc báo cáo là có các đặc tính thúc đẩy tăng trƣởng thực vật. (Ramadoss et al., 2013) cho thấy vi khuẩn chịu mặn đƣợc phân lập từ môi trƣờng mặn đã cải thiện tình trạng căng thẳng do mặn ở cây lúa mì. Anbumalar và cộng sự (2018) đã nghiên cứu tiềm năng thúc đẩy tăng trƣởng thực vật của các chủng vi khuẩn Halobacterium nhƣ hòa tan IAA và phosphate và cho thấy hiệu quả của chúng đối với sự nảy mầm và tăng trƣởng 1 của hạt giống cây trồng ở các loại cây trồng khác nhau nhƣ bông, cà chua, và ngô trong điều kiện in vitro.
Các vi sinh vật đất cộng sinh hoặc không cộng sinh cƣ trú trong vùng rễ, sống ở rễ cây đã có tác động tích cực trực tiếp hoặc gián tiếp đến cây trồng. Việc sử dụng vi sinh vật với mục đích cải thiện khả năng cung cấp chất dinh dƣỡng cho cây trồng là một thực tiễn quan trọng và cần thiết cho nông nghiệp bất kể nguồn cƣ trú của chúng trên khắp thế giới. Thúc đẩy tăng trƣởng trực tiếp bằng vi sinh vật kích thích sinh trƣởng thực vật (PGPR) xảy ra khi vi khuẩn rhizobacteria tạo ra các chất chuyển hóa thúc đẩy tăng trƣởng thực vật nhƣ auxin, cytokinin và gibberellin, ACC deaminase cũng nhƣ thông qua quá trình hòa tan phosphate, kali, khoáng chất kẽm, cố định đạm, v. Thúc đẩy tăng trƣởng gián tiếp xảy ra thông qua việc loại bỏ mầm bệnh bằng cách sản xuất xyanua và siderophores.
Tác dụng có lợi của PGPR đã đƣợc khai thác trong nhiều lĩnh vực bao gồm phân bón sinh học. Vi khuẩn thúc đẩy sự tăng trƣởng thực vật là vi khuẩn sống trong rễ có thể trực tiếp hoặc gián tiếp tạo điều kiện cho rễ và sự phát triển của cây, giúp tăng sự hấp thụ của chất dinh dƣỡng từ đất. Điều này có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với thực vật trong điều kiện nhiễm mặn bởi vì đất nhiễm mặn là trở ngại hàng đầu trong việc hấp thu dinh dƣỡng của thực vật. Do đó, đề tài: “ Khảo sát đặc điểm sinh học, khả năng kháng nấm Fusarium oxysporum và sinh chất kích thích sinh trƣởng thực vật của một số chủng vi khuẩn phân lập từ đất ven biển” đƣợc tiến hành.
Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 1. Mục tiêu - Tuyển chọn các chủng vi khuẩn có khả năng chịu mặn, đối kháng với nấm gây bệnh đồng thời có khả năng sinh IAA, phân giải phosphate. - Nghiên cứu các đặc điểm sinh lý – sinh hóa của các chủng vi khuẩn phân lập. Yêu cầu - Phân lập và tuyển chọn các chủng vi khuẩn có khả năng chịu mặn.
- Khảo sát khả năng kháng nấm Fusarium oxysporum của các chủng vi khuẩn phân lập. - Khảo sát khả năng sinh tổng hợp IAA của các chủng vi khuẩn phân lập. - Khảo sát khả năng phân giải phosphate khó tan của các chủng vi khuẩn phân lập. - Khảo sát khả năng sinh enzyme ngoại bào của các chủng vi khuẩn phân lập.
- Khảo sát các đặc tính sinh lý – sinh hóa của các chủng vi khuẩn: phản ứng catalase, khả năng di động, biến dƣỡng citrate, khử nitrate,.v của các chủng vi khuẩn phân lập. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học Kết quả nghiên cứu của đề tài này là tài liệu tham khảo cho những nghiên cứu sâu hơn về vi khuẩn chịu mặn và nghiên cứu phát triển các chế phẩm sinh học. Ý nghĩa thực tiễn Kết quả nghiên cứu này góp phần bổ sung thêm tài liệu về vi khuẩn có khả năng chịu mặn, đối kháng với nấm gây bệnh đồng thời kích thích sinh trƣởng thực vật.
Từ đó giúp nghiên cứu, phát triển các loại chế phẩm sinh học có hiệu quả góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất trong nông nghiệp, giảm thiểu lƣợng phân bón hóa học, bảo vệ môi trƣờng, gây dựng nên một nền nông nghiệp sạch và bền vững. 3 PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Tổng quan về đất mặn Hiện nay, tình trạng đất bị nhiễm mặn đang là vấn đề quan trọng cần giải quyết, là hiện tƣợng nguy hiểm ảnh hƣởng xấu tới nguồn lƣơng thực trên thế giới nói chung và nguồn lƣơng thực của Việt Nam nói riêng cụ thể là ảnh hƣởng tới sự sinh trƣởng của nhiều loại cây trồng và độ phì nhiêu của đất. Độ mặn và hạn hán của đất đƣợc coi là những yếu tố gây stress phi sinh học chính làm suy giảm nghiêm trọng sự phát triển của cây trồng ở những vùng khô hạn và bán khô hạn, dẫn đến những tác động tiêu cực lớn đến các khía cạnh sinh thái, nông học và kinh tế (Etesami & Maheshwari, 2018).
Ngƣời ta ƣớc tính rằng khoảng 20% diện tích đất đƣợc tƣới tiêu trên thế giới đã bị nhiễm mặn; chúng đƣợc phân loại là đất khô cằn hoặc sa mạc và chiếm 25% tổng số đất bao phủ bề mặt Trái đất (Rasool et al. Hạn hán bao gồm sự tƣơng tác giữa thiếu nƣớc, nhiệt độ cao và bức xạ cao. Hạn hán và thiếu nƣớc là những thuật ngữ đƣợc sử dụng thay thế cho nhau trong các nghiên cứu khác nhau để chỉ tình trạng căng thẳng do thiếu nƣớc và ảnh hƣởng của nó đối với các sinh vật sống. Nguyên nhân hình thành đất mặn Các vùng khô hạn và bán khô hạn trải dài trên khắp thế giới, diện tích ƣớc tính vào khoảng 66,7 triệu km2 của Trái đất và khu vực này dự kiến sẽ mở rộng do hậu quả của biến đổi khí hậu và các hoạt động của con ngƣời (Ayangbenro & Babalola, 2021).
Đất ở vùng khô hạn và bán khô hạn có độ sâu thay đổi với kết cấu từ cát đến đất sét (Gálve, 2010); thảm thực vật thƣa thớt do lƣợng mƣa thấp dẫn đến hàm lƣợng chất hữu cơ trong đất thấp (1–3%)(Villavicencio-Floriani et al. Những loại đất này đƣợc đặc trƣng bởi sự tích tụ các muối hòa tan mà sự phân bố, số lƣợng và loại của chúng phụ thuộc vào thành phần của nƣớc đến phẫu diện đất và các dòng chảy xảy ra bên trong nó. 4 Những vùng khô hạn này có các đặc điểm địa mạo đặc trƣng bởi những lƣu vực bên trong không có lối thoát tự nhiên, do đó sự bốc hơi nƣớc để lại muối trong đất, gây ra vấn đề nhiễm mặn nếu chúng không đƣợc mƣa hòa tan hoặc phân phối lại (Gálve, 2010). Các yếu tố khác nhau có thể thúc đẩy quá trình nhiễm mặn trong đất nông nghiệp.
Ở những khu vực có mực nƣớc ngầm nông (sâu dƣới 1,5 m), hệ thống thoát nƣớc thẳng đứng không đủ và khi nƣớc ngầm lên bề mặt thì nó tuần hoàn các muối hòa tan tích tụ trên bề mặt. Nếu mực nƣớc ngầm sâu nhƣng thoát nƣớc kém thì muối đƣợc vận chuyển bởi mƣa, phong hóa và gió tích tụ trên bề mặt. Các quá trình này thƣờng xảy ra trong đất chua hoặc kiềm. Mặt khác, nếu nƣớc tƣới không đảm bảo chất lƣợng, cây trồng không hấp thụ hết muối hòa tan trong nƣớc và tích tụ ở rễ.
Điều này, cùng với điều kiện bốc hơi cao, cuối cùng dẫn đến tăng độ mặn của đất (Rengasamy, 2006). Phân loại đất mặn Đất bị ảnh hƣởng bởi độ mặn đƣợc phân thành ba loại: đất mặn, đất chua và đất mặn-chua (Rasool et al. Đất mặn chứa muối hòa tan ảnh hƣởng đến sự phát triển của thực vật và đƣợc đặc trƣng bởi độ dẫn điện cao hơn 4 d Sm −1, giá trị pH nhỏ hơn 8,5. Những loại đất chua trao đổi Na + trên 15% và giá trị độ dẫn điện dƣới 4 d Sm−1 vì chúng không bị nhiễm mặn và có thể có hoặc không có độ pH kiềm trên 8,5.
Kết quả là, những loại đất này cho thấy các vấn đề về cấu trúc nhƣ sự phân tán và phân tổ. Mặt khác, đất nhiễm mặn có hàm lƣợng muối hòa tan cao (chủ yếu là CaCl2 hoặc CaSO4 và một lƣợng nhỏ NO3- hoặc borates) và ion Na+, có độ dẫn điện lớn hơn 4 d Sm −1 và không nhất thiết phải có tính kiềm (Rengasamy et al., 2010; Qadir et al. Tác hại của đất mặn Cây trồng nông nghiệp biểu hiện một loạt các phản ứng dƣới áp lực của muối. Độ mặn không chỉ làm giảm năng suất nông nghiệp của hầu hết các loại cây trồng mà còn ảnh hƣởng đến tính chất lý hóa của đất và cân bằng sinh thái 5 của khu vực.
Các tác động của độ mặn bao gồm - năng suất nông nghiệp thấp, lợi nhuận kinh tế thấp và xói mòn đất (Hu & Schmidhalter, 2004). Ảnh hƣởng của độ mặn là kết quả của sự tƣơng tác phức tạp giữa hình thái, sinh lý và sinh hóa bao gồm sự nảy mầm của hạt giống, sự phát triển của thực vật và sự hấp thu nƣớc và chất dinh dƣỡng (Akbarimoghaddam et al. Độ mặn ảnh hƣởng đến hầu hết các khía cạnh phát triển của cây trồng bao gồm: nảy mầm, sinh trƣởng sinh dƣỡng và phát triển sinh sản.