Tổng quan nghiên cứu

Thực trạng ngộ độc thực phẩm do vi sinh vật tại Việt Nam đang là thách thức nghiêm trọng đối với sức khỏe cộng đồng. Theo số liệu thống kê chính thức, năm 2015 toàn quốc ghi nhận 147 vụ ngộ độc thực phẩm khiến 5.026 người mắc và 33 trường hợp tử vong; năm 2016 tiếp tục xảy ra 132 vụ làm 4.676 người mắc và 41 người tử vong. Chỉ tính riêng trong 6 tháng đầu năm 2017, số người bị ngộ độc thực phẩm đã lên tới 1.592 người trên tổng số 73 vụ. Trong đó, các nghiên cứu dịch tễ chỉ ra rằng khoảng 95% trường hợp tiêu chảy có liên quan đến thực phẩm tươi sống nhiễm vi khuẩn đường ruột, đặc biệt là Salmonella spp. và Campylobacter spp.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Thú y của tác giả Nguyễn Thị Lan Anh tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam tập trung giải quyết vấn đề cấp bách: Xác định khả năng kháng kháng sinh của vi khuẩn Salmonella và Campylobacter phân lập từ thịt lợn, gà tại Hà Nội và Bắc Ninh. Mục tiêu cụ thể của đề tài là đánh giá nguy cơ ô nhiễm vi sinh vật gây ngộ độc thực phẩm trên thân thịt tươi sống bày bán tại chợ truyền thống, đồng thời cập nhật tỷ lệ đề kháng kháng sinh của các chủng vi khuẩn phân lập được theo tiêu chuẩn quốc tế.

Nghiên cứu được triển khai thực nghiệm từ tháng 2 năm 2018 đến tháng 10 năm 2018 tại Bộ môn Vệ sinh Thú y thuộc Viện Thú y Quốc gia. Kết quả nghiên cứu có giá trị thực tiễn to lớn, cung cấp hệ thống số liệu khoa học quan trọng hỗ trợ Kế hoạch hành động quốc gia về kiểm soát vi khuẩn kháng thuốc theo Quyết định số 2625/QĐ-BNN-TY do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành ngày 21 tháng 06 năm 2017.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu xây dựng trên nền tảng lý thuyết sinh bệnh học vi sinh vật và cơ chế đề kháng kháng sinh hiện đại.

Về cơ chế gây bệnh của Salmonella, nghiên cứu phân tích tác động tổng hợp từ yếu tố bám dính fimbriae, khả năng xâm nhập tế bào nhung mao ruột và tác động của ba nhóm độc tố: nội độc tố Endotoxin từ vách tế bào vi khuẩn Gram âm, ngoại độc tố đường ruột Enterotoxin gồm yếu tố thẩm xuất nhanh RPF và thẩm xuất chậm DPF làm tăng nồng độ ion canxi nội bào gây ỉa chảy cấp, cùng độc tố tế bào Cytotoxin gây tổn thương tế bào biểu mô ruột. Đối với Campylobacter, cơ chế sinh bệnh được giải thích qua vai trò của tiên mao di động xoắn ốc và độc tố CDT (Cytolethal Distending Toxin) được mã hóa bởi operon ba gen cdtABC có khả năng làm biến dạng và hủy hoại tế bào vật chủ.

Về cơ chế đề kháng kháng sinh, đề tài vận dụng mô hình bốn cơ chế chính của Hawkey (1998): làm thay đổi đích tác động của thuốc, tiết enzym phá hủy hoạt tính kháng sinh (như beta-lactamase), giảm tính thấm của màng ngoài vi khuẩn và tạo các isoenzym thay đổi con đường chuyển hóa. Khung lý thuyết này phân định rõ ranh giới giữa đề kháng tự nhiên mang tính di truyền loài và đề kháng thu được qua plasmid, transposon dưới áp lực chọn lọc của thuốc thú y.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên có chủ đích tại các quầy bán thịt lợn, thịt gà ở các chợ truyền thống thuộc Hà Nội và Bắc Ninh. Quy trình thu thập mẫu tuân thủ nghiêm ngặt tiêu chuẩn TCVN 4833-2:2002. Cỡ mẫu mỗi điểm lấy từ 300 đến 500 gram mẫu vào khung giờ từ 6 đến 7 giờ sáng, được bảo quản lạnh ở nhiệt độ 4 độ C bằng đá khô và chuyển ngay về phòng thí nghiệm trong ngày. Bên cạnh đó, đề tài thực hiện điều tra dịch tễ học tại 110 hộ chăn nuôi ở Bắc Ninh (gồm 23 trang trại quy mô nhỏ dưới 20 con, 81 trang trại quy mô vừa từ 20 đến 200 con và 6 trang trại lớn trên 200 con).

Quy trình phân lập vi sinh vật áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế chuyên biệt:

  • Vi khuẩn Salmonella spp. được phân lập theo quy trình ISO 6579-2003 qua 4 bước: tăng sinh không chọn lọc trong nước đệm Pepton (BPW), tăng sinh chọn lọc trên thạch bán cố thể MSRV và canh thang Muller Kauffmann, phân lập trên môi trường thạch XLT4 và Rambach, kiểm tra đặc tính sinh hóa trên thạch Kligler và thử ngưng kết kháng huyết thanh Poly OH.
  • Vi khuẩn Campylobacter spp. được phân lập theo ISO 10272 cải tiến, tăng sinh trong dung dịch Bolton Blood, nuôi cấy chọn lọc trên thạch mCCD và Columbia Blood Agar trong hộp nuôi cấy vi hiếu khí với gói khí Campygen 2,5L ở nhiệt độ 41,5 độ C suốt 40 đến 48 giờ.

Khả năng kháng kháng sinh được kiểm tra bằng phương pháp khuếch tán khoanh giấy kháng sinh Kirby-Bauer (1966) trên môi trường thạch Mueller-Hinton (bổ sung 5% máu cừu đối với Campylobacter). Đường kính vòng vô khuẩn được đo đạc chính xác và so sánh đối chiếu theo tiêu chuẩn quốc tế về kiểm soát kháng kháng sinh DANMAP 2017. Toàn bộ số liệu thu thập được xử lý thống kê trên phần mềm chuyên dụng Microsoft Excel 2007.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu đã ghi nhận những phát hiện mang tính cảnh báo cao về thực trạng nhiễm khuẩn và mức độ kháng thuốc trên thịt tươi sống:

Thứ nhất, tỷ lệ nhiễm Salmonella spp. trên thịt tươi sống ở mức rất cao. Tại Hà Nội, tỷ lệ nhiễm trên thịt gà đạt 57% và thịt lợn lên tới 75%. Tại Bắc Ninh, tỷ lệ nhiễm trên thịt gà ghi nhận 50% và thịt lợn là 57,5%.

Thứ hai, tỷ lệ ô nhiễm vi khuẩn Campylobacter spp. xuất hiện phổ biến trên thịt gia cầm. Tại Hà Nội, tỷ lệ nhiễm trên thịt gà là 45% và thịt lợn là 10%. Tại Bắc Ninh, tỷ lệ nhiễm tương ứng là 30% trên thịt gà và 12,5% trên thịt lợn.

Thứ ba, các chủng Campylobacter spp. phân lập được thể hiện mức độ đề kháng kháng sinh đáng báo động. Các chủng phân lập từ thịt gà đề kháng mạnh nhất với nhóm Quinolon và Tetracyclin với tỷ lệ lên tới 97,22%. Đặc biệt, 100% chủng Campylobacter spp. phân lập từ thịt lợn đã kháng hoàn toàn với nhóm Tetracyclin và Aminoglycosid (Gentamicin).

Thứ tư, các chủng Salmonella spp. đề kháng đa dạng với nhiều nhóm kháng sinh quan trọng. Tỷ lệ kháng Sulfonamid đạt 87% trên mẫu thịt gà Hà Nội và 73,9% trên mẫu thịt lợn Bắc Ninh. Chủng phân lập từ thịt gà Bắc Ninh kháng Beta-lactam lên tới 85%, trong khi chủng từ thịt lợn Hà Nội kháng Tetracyclin ở mức 80%.

Thứ năm, khảo sát 110 hộ chăn nuôi tại Bắc Ninh phát hiện 83,6% số hộ (92 hộ) sử dụng nước giếng khoan chưa kiểm soát vi sinh, 30,9% số hộ (34 hộ) tự ý tăng liều dùng kháng sinh lên 1,5 lần so với khuyến cáo của nhà sản xuất và 85,5% số hộ (94 hộ) hoàn toàn không có sổ sách theo dõi sức khỏe đàn.

Thảo luận kết quả

Tỷ lệ nhiễm vi khuẩn Salmonella spp. và Campylobacter spp. trên thịt tươi sống tại Hà Nội và Bắc Ninh ở mức rất cao phản ánh sự lây nhiễm chéo nghiêm trọng trong chuỗi cung ứng. Nguyên nhân cốt lõi bắt nguồn từ kỹ thuật giết mổ thủ công, điều kiện vệ sinh thú y chưa đảm bảo và quá trình bày bán thịt trên các phản gỗ, quầy hở ở nhiệt độ môi trường tại các chợ dân sinh.

Tình trạng kháng kháng sinh trầm trọng của các chủng vi khuẩn phân lập có mối tương quan trực tiếp với tập quán chăn nuôi nông hộ. Việc 30,9% chủ hộ tự ý tăng liều thuốc và 69,1% nguồn cung cấp kháng sinh đến từ các hiệu thuốc thú y tư nhân mà không có đơn kê của bác sĩ chuyên môn đã tạo áp lực chọn lọc tự nhiên gay gắt. Áp lực này thúc đẩy các chủng vi khuẩn hình thành gen kháng thuốc và phát tán nhanh chóng qua môi trường phân, nước uống.

Các phát hiện này hoàn toàn tương thích với các công bố khoa học trong và ngoài nước, điển hình như các báo cáo của Đơn vị Nghiên cứu Lâm sàng Đại học Oxford (OUCRU) xác nhận Campylobacter chiếm 17,63% ca tiêu chảy ở trẻ em. Dữ liệu thực nghiệm của luận văn được trực quan hóa mạch lạc qua hệ thống biểu đồ cột so sánh mức độ ô nhiễm giữa các vùng sinh thái và các bảng kháng sinh đồ chi tiết theo tiêu chuẩn DANMAP 2017, mang lại bằng chứng khoa học đanh thép về nguy cơ mất an toàn thực phẩm.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm kiểm soát triệt để nguy cơ lây nhiễm vi khuẩn đường ruột kháng thuốc từ thực phẩm sang người, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

  1. Cơ quan quản lý Thú y và Y tế (Cục Thú y, Chi cục Chăn nuôi và Thú y các tỉnh): Thiết lập cơ chế thanh tra, giám sát định kỳ 100% các cơ sở kinh doanh thuốc thú y; siết chặt quy định bán thuốc kháng sinh theo đơn; đặt mục tiêu cắt giảm 50% tình trạng người chăn nuôi tự ý tăng liều thuốc thú y trong giai đoạn 2019 - 2022.

  2. Người chăn nuôi và chủ trang trại gia súc, gia cầm: Đầu tư cải tạo hạ tầng cấp nước, nâng tỷ lệ hộ sử dụng nguồn nước lọc sạch và khử trùng từ mức 3,7% hiện nay lên trên 60% vào năm 2023; thiết lập 100% sổ nhật ký theo dõi sức khỏe đàn và tuân thủ nghiêm ngặt thời gian ngừng thuốc trước khi xuất chuồng.

  3. Ban quản lý chợ và cơ sở giết mổ: Quy hoạch lại hệ thống giết mổ tập trung đảm bảo tách biệt khu bẩn và khu sạch; trang bị bàn inox kháng khuẩn và thiết bị làm lạnh bảo quản thịt tại các chợ truyền thống, hướng tới mục tiêu giảm tỷ lệ ô nhiễm Salmonella trên thân thịt xuống dưới 25% trong vòng 24 tháng.

  4. Người tiêu dùng và cơ sở bếp ăn tập thể: Thực hiện triệt để nguyên tắc ăn chín uống sôi; duy trì nhiệt độ nấu chín thịt trên 70 độ C trong tối thiểu 2 phút để tiêu diệt mầm bệnh; phân tách hoàn toàn dao thớt dùng cho thực phẩm sống và thực phẩm chín để ngăn ngừa nguy cơ nhiễm chéo 100%.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và số liệu chuyên sâu của luận văn mang lại giá trị thiết thực cho 4 nhóm đối tượng chính:

  • Cán bộ hoạch định chính sách và kiểm soát Thú y - Y tế dự phòng: Cung cấp nguồn dữ liệu thực chứng tin cậy phục vụ công tác xây dựng hàng rào kỹ thuật và triển khai các chương trình giám sát kháng kháng sinh cấp quốc gia theo Quyết định 2625/QĐ-BNN-TY.

  • Giảng viên, nghiên cứu sinh và sinh viên chuyên ngành Thú y, Vi sinh vật học, Công nghệ thực phẩm: Nguồn tài liệu học thuật giá trị về kỹ thuật phân lập chuẩn hóa ISO 6579-2003, ISO 10272 và phương pháp đánh giá kháng sinh đồ Kirby-Bauer theo chuẩn DANMAP 2017.

  • Kỹ thuật viên trang trại và người chăn nuôi gia súc, gia cầm: Giúp nhận diện rủi ro thất bại trong điều trị do vi khuẩn kháng thuốc, từ đó chuyển dịch sang các giải pháp an toàn sinh học và chế phẩm sinh học thay thế.

  • Doanh nghiệp chế biến, kinh doanh thực phẩm và kiểm nghiệm chất lượng: Cung cấp cơ sở khoa học để thiết lập hệ thống phân tích mối nguy và điểm kiểm soát tới hạn (HACCP), bảo đảm tiêu chuẩn an toàn cho chuỗi cung ứng thịt tươi sống.

Câu hỏi thường gặp

Nguy cơ lớn nhất khi người tiêu dùng ăn phải thịt nhiễm Salmonella và Campylobacter là gì?

Cả hai loại vi khuẩn đều gây viêm dạ dày ruột cấp tính với triệu chứng đau bụng, sốt, tiêu chảy dữ dội và nôn mửa. Khi nhiễm phải chủng vi khuẩn kháng thuốc, việc điều trị bằng các kháng sinh thông thường sẽ bị thất bại, kéo dài thời gian nằm viện và làm tăng nguy cơ tử vong, đặc biệt ở trẻ em dưới 5 tuổi và người già.

Tại sao tỷ lệ ô nhiễm vi khuẩn Salmonella trên thịt lợn tại Hà Nội lại lên tới 75%?

Tỷ lệ này bắt nguồn từ việc lợn mang trùng đường ruột không triệu chứng khi đưa vào giết mổ thủ công. Quá trình làm lòng, mổ bụng không đảm bảo vô trùng khiến phân dính vào thân thịt. Hơn nữa, việc vận chuyển và bày bán thịt ở điều kiện nhiệt độ phòng tại các chợ dân sinh tạo môi trường tối ưu cho vi khuẩn nhân lên nhanh chóng.

Tỷ lệ kháng kháng sinh của vi khuẩn Campylobacter trong nghiên cứu có gì đặc biệt?

Nghiên cứu phát hiện mức độ kháng thuốc cực kỳ nghiêm trọng: 97,22% chủng Campylobacter trên thịt gà kháng nhóm Quinolon và Tetracyclin; 100% chủng trên thịt lợn kháng hoàn toàn với Tetracyclin và Aminoglycosid. Điều này cho thấy các nhóm kháng sinh truyền thống gần như đã mất hoàn toàn hiệu lực điều trị đối với vi khuẩn này.

Thói quen sử dụng thuốc của người chăn nuôi ảnh hưởng thế nào đến tình trạng kháng thuốc?

Khảo sát chỉ ra 30,9% hộ chăn nuôi tự ý tăng liều kháng sinh gấp 1,5 lần và 83,6% dùng nước giếng khoan chưa lọc. Việc lạm dụng thuốc sai liều lượng và không tuân thủ thời gian ngừng thuốc tạo áp lực chọn lọc nhân tạo, khiến các đột biến kháng thuốc tích lũy và lây lan nhanh trong quần thể vi sinh vật.

Phương pháp phân lập và thử nghiệm kháng sinh đồ trong luận văn có độ tin cậy ra sao?

Toàn bộ quy trình phân lập tuân thủ chuẩn ISO 6579-2003 cho Salmonella và ISO 10272 cải tiến cho Campylobacter. Đánh giá kháng sinh đồ thực hiện theo phương pháp khuếch tán khoanh giấy Kirby-Bauer trên thạch Mueller-Hinton và đối chiếu trực tiếp với bảng tiêu chuẩn quốc tế DANMAP 2017, bảo đảm tính khách quan và chuẩn mực học thuật cao nhất.

Kết luận

  • Luận văn xác định tỷ lệ nhiễm Salmonella spp. trên thịt lợn tại Hà Nội lên tới 75% và Campylobacter spp. trên thịt gà đạt 45%, phản ánh nguy cơ mất an toàn vệ sinh thực phẩm rất cao tại các chợ truyền thống.
  • Các chủng vi khuẩn phân lập mang đặc tính đa kháng thuốc phức tạp, điển hình là 100% chủng Campylobacter từ thịt lợn kháng Tetracyclin và Aminoglycosid, 97,22% chủng từ thịt gà kháng Quinolon và Tetracyclin.
  • Đề tài chỉ rõ thực trạng lạm dụng kháng sinh tại 30,9% hộ chăn nuôi ở Bắc Ninh là nguyên nhân cốt lõi làm gia tăng áp lực kháng thuốc trong hệ sinh thái nông nghiệp.
  • Cung cấp cơ sở dữ liệu thực nghiệm chuẩn mực theo tiêu chuẩn quốc tế DANMAP 2017, đóng góp trực tiếp cho Kế hoạch hành động quốc gia về kiểm soát vi khuẩn kháng thuốc giai đoạn 2017 - 2020.
  • Các đơn vị quản lý, trang trại chăn nuôi và người tiêu dùng cần khẩn trương phối hợp thực hiện đồng bộ các biện pháp an toàn sinh học và kiểm soát chuỗi cung ứng thực phẩm tươi sống nhằm bảo vệ sức khỏe cộng đồng.