Chương 1 TỔNG QUAN 1. Giải phẫu mạch máu chi phối cho tinh hoàn 1. Giải phẫu hệ thống tĩnh mạch tinh 1.1 Nguyên ủy và đường đi Tĩnh mạch tinh nguyên ủy xuất phát từ tinh hoàn và nhận cách nhánh từ mào tinh hợp lại với nhau tạo nên một đám rối TM xoắn chằng chịt, gọi là đám rối TM hình dây leo (pampiniform plexus) [21]. Giải phẫu mạch máu tinh hoàn [15] Đám rối này đi trong thừng tinh, phía trước ống dẫn tinh.
Khi đến dưới lỗ bẹn ngoài, hợp với nhau để thành 3 đến 4 nhánh TM. Những nhánh này chạy trong ống bẹn, vào ổ bụng qua lỗ bẹn sâu, phía sau phúc mạc. Lúc này tập hợp lại để hình thành nên hai TM nằm hai bên của ĐM tinh trong và chạy dọc theo cơ đái chậu đi lên trên, sau đó hợp lại thành một TM duy nhất để đổ vào TM chủ bụng ở bên phải với một góc nhọn, còn ở bên trái đổ gần vuông góc vào TM thận trái (Hình 1. Phân nhánh Tĩnh mạch tinh hoàn có 3 nhánh chính [17]: - Tĩnh mạch trong: dẫn máu từ tinh hoàn trái về TM thận bên trái và dẫn máu từ tinh hoàn phải về TM chủ dưới.
- Tĩnh mạch ống dẫn tinh: dẫn máu về TM chậu trong. - Tĩnh mạch tinh ngoài: dẫn máu về TM thượng vị dưới. Các TM này thông nối với nhau tạo thành đám rối TM hình dây leo. Ngoài ra, hệ TM của hai bên tinh hoàn cũng nối thông với nhau qua các TM sinh dục ngoài, TM cơ bìu (Hình 1.
Giải phẫu hệ thống tĩnh mạch tinh [26] 1. Các vòng nối của hệ tĩnh mạch sinh dục Tĩnh mạch tinh nối thông với rất nhiều TM xung quanh ĐM tinh hoàn nên nó đóng vai trò như một bộ phận tản nhiệt cho tinh hoàn. Cụ thể TMT có vai trò làm mát đi dòng máu trong ĐM tinh hoàn vì vậy mà nhiệt độ của tinh hoàn luôn luôn thấp hơn nhiệt độ cơ thể khoảng 1 - 20C. Ngoài ra, TMT cũng nối thông với các TM khác như: TM sinh dục ngoài, TM cơ bìu và các TM của mạch, chính sự tiếp nối này giải thích nguyên nhân GTMT tái phát sau khi thắt [17].
Sơ đồ nối thông tĩnh mạch 2 bên tinh hoàn [68] Có rất nhiều vòng nối giữa các TM của hệ TM sinh dục. Những vòng nối này có vai trò quan trọng cần phải nhớ trong khi PT thắt TMT. Để tránh biến chứng tái phát bệnh sau PT, các PTV sẽ phải thắt hết tất cả các nhánh TM mà không lo cản trở hoàn lưu máu trở về hệ TM chung [4] (Hình 1.3): - Vòng nối giữa các TM sâu và các TM nông: Tĩnh mạch dây chằng bìu thực chất là vòng nối giữa các TM ở sâu với các TM ở nông. Tĩnh mạch này xuất phát từ hợp lưu TM ở cực dưới của tinh hoàn (thuộc hệ TM sâu) nối thông với các TM bìu sau (thuộc hệ TM nông) rồi đi qua dây chằng bìu, sau đó đổi tên thành TM dây chằng bìu.
Một nhánh của TM cơ bìu (TM sâu) hợp với với một nhánh của TM bìu trước (TM nông) để hình thành nên TM thẹn ngoài rồi dẫn máu về TM hiển. Vì vậy, bên dưới lỗ bẹn nông có một vòng tuần hoàn bàng hệ với TM chậu ngoài thông qua các vòng nối TM. Nhờ các vòng nối giữa các TM sâu và TM nông mà máu từ mạng lưới sâu có thể trở về TM thẹn ngoài qua TM bìu trước và TM thẹn trong qua TM bìu sau. Sự nối thông này đã giúp cho máu từ tinh hoàn trở về tuần hoàn chung qua hệ TM chậu sau khi thắt TMT.
6 - Vòng nối giữa các TM ở sâu: Có ít nhất hai vòng nối giữa các TM sâu. Vòng nối giữa các đám rối của TMT trong thông qua các TM biên của tinh hoàn và mào tinh hoàn và các đám rối dọc ở cực trên của tinh hoàn. Vòng nối giữa ba TM sâu tại hợp lưu TM ở cực dưới của tinh hoàn - Vòng nối giữa các TM ở nông: Các TM bìu trước và TM bìu sau nối thông với nhau và nối thông các TM bìu của bên đối diện. Vòng nối này có vai trò quan trọng trong quá trình PT vì đây là một trong những nguyên nhân gây tái phát nếu như vòng nối này bị bỏ sót.
Mô học của tĩnh mạch tinh [12] Tĩnh mạch tinh là TM cỡ trung bình, cấu tạo mô học gồm 3 lớp: Áo trong, áo giữa, áo ngoài. Đặc biệt được quan tâm đến là cấu trúc mô học của van TM. Van TM: Lòng của TMT có những van giữ dòng máu chỉ chảy theo chiều về tim. Mỗi van TM gồm hai lá van hình bán nguyệt đối xứng nhau.
Mỗi lá van được hình thành do sự gấp lại của áo trong TM. Giữa hai mặt của lá van là lớp sợi collagen mỏng xen với lưới sợi chun, những thành phần này liên tiếp với lớp dưới nội mô của áo trong TM. Mặt hướng vào lòng mạch của lá van, các tế bào nội mô xếp theo chiều ngang so với trục của mạch, ở mặt hướng vào thành mạch, các tế bào nội mô có chiều dài hướng theo chiều dọc của mạch. Khoang tạo nên giữa van và thành mạch được gọi là xoang của van.
Ở khu vực bờ cong của chân van, nơi gắn với thành mạch, thành TM mỏng hơn và lòng mạch rộng hơn đáng kể so với nơi khác. Khi TM chứa đầy máu khu vực này hơi phình ra, vì vậy có thể xác định vị trí của van từ phía ngoài mạch bằng mắt thường. Hai bờ tự do của van nhô ra và hướng xuôi về phía dòng máu chảy. Khi dòng máu chảy về hướng tim, hai lá van ép sát vào thành mạch.
Nếu áp lực của cột máu phía trên van tăng lên làm hai lá van đóng lại, ngăn không cho máu chảy ngược. Cấu tạo van tĩnh mạch 1. Giải phẫu động mạch sinh dục nam Động mạch sinh dục nam giới bao gồm các ĐM ở sâu và các ĐM ở nông. Các ĐM ở sâu cấp máu cho tinh hoàn, mào tinh hoàn và ống dẫn tinh.
Các ĐM ở nông cấp máu cho bìu (Hình 1. Động mạch cấp máu cho tinh hoàn [34] * Các động mạch ở sâu Các ĐM ở sâu là những ĐM chạy trong thừng tinh. Các ĐM này nối thông với nhau tạo thành các vòng nối ở sâu, ngoài ra chúng còn nối với các ĐM nông tạo thành vòng nối ở nông [13]. Các ĐM sâu bao gồm: - Động mạch tinh trong hay còn gọi là ĐM sinh dục hoặc ĐM tinh hoàn, tách ra từ ĐM chủ bụng ngay dưới nguyên ủy của ĐM thận ở ngang mức với 8 đốt sống thắt lưng II- III.
Từ nguyên ủy động mạch chạy xuống dưới, chui ra ngoài ổ bụng qua ống bẹn đến cấp máu cho tinh hoàn, mào tinh hoàn và bao thớ thừng tinh. Nhánh mào tinh tận hết ở 1/3 trên của tinh hoàn, đi trong mặt phẳng nằm giữa mào tinh và mặt sau của tinh hoàn [13]. - Động mạch ống dẫn tinh được tách ra từ ĐM bàng quang dưới, là nhánh của ĐM chậu trong hay còn gọi là ĐM hạ vị, cấp máu cho ống dẫn tinh. - Động mạch cơ bìu hay còn gọi là ĐM tinh ngoài tách ra từ ĐM thượng vị dưới, là một nhánh của ĐM chậu ngoài, cấp máu cho cực dưới tinh hoàn.
* Các động mạch ở nông Các ĐM ở nông là các ĐM không đi trong thừng tinh. Các ĐM này nối thông với nhau tạo thành vòng nối ĐM ở nông cấp máu cho bìu, ngoài ra chúng còn nối thông với các ĐM ở sâu cấp máu một phần cho tinh hoàn, mào tinh hoàn và ống dẫn tinh. Các ĐM nông bao gồm: - Động mạch bìu trước tách ra từ ĐM thẹn ngoài, đây là một nhánh của ĐM đùi. - Động mạch bìu sau tách ra từ ĐM thẹn trong, đây là nhánh của ĐM chậu trong.
Các thành phần khác liên quan hệ sinh dục nam * Ống dẫn tinh: Là một ống dày đường kính khoảng 2-3 mm, nhưng lòng ống chỉ rộng 0,5 mm. Ống dẫn tinh liên tiếp với ống mào tinh ở đuôi mào tinh, rồi quặt ngược lên và ra trước chạy vào thừng tinh cùng với TMT, ĐM tinh và ĐM ống dẫn tinh. Khi đến vòng bẹn sâu thì vào chậu hông tới mặt sau bàng quang rồi chọc qua tuyến tiền liệt đổ vào niệu đạo tiền liệt tuyến ở ụ núi [8]. Tinh hoàn nằm trong bìu, tinh hoàn trái thường xuống thấp hơn tinh hoàn phải khoảng lcm.
Tinh hoàn phát triển nhanh trong giai đoạn trưởng thành. Tinh hoàn có hình xoan dẹt, mặt nhẵn, màu trắng xanh, trục tinh hoàn hơi chếch 9 xuống dưới và ra sau. Ở người trưởng thành, tinh hoàn có kích thước trung bình như sau: Dài 4,5cm, rộng 2,5cm, dày 3cm, với thể tích thay đổi từ 12- 30ml. Tinh hoàn sờ thấy chắc, hơi rắn và nắn có cảm giác đau đặc biệt.
Tinh hoàn có hai mặt: Mặt ngoài lồi, mặt trong phẳng hơn; có hai cực: Cực trên và cực dưới; có hai bờ: Bờ trước và bờ sau. Ở cực trên có một mẩu nhỏ nhô ra gọi là mẩu phụ tinh hoàn, là di tích của đầu trên ống cạnh trung thận. Bờ sau có mào tinh hoàn úp chụp lấy tinh hoàn. Mào tinh: Mào tinh hoàn có hình chữ ‘C’, gồm đầu, thân và đuôi.
Mào tinh hoàn nằm dọc theo đầu trên và phần ngoài bờ sau tinh hoàn. Đầu và đuôi dính vào tinh hoàn bởi mô liên kết, thân không dính vào tinh hoàn, lá tạng của bao tinh hoàn lách vào khe giữa thân mào tinh và tinh hoàn tạo nên một túi cùng gọi là xoang mào tinh. Trên đầu mào tinh cũng có một mẩu phụ dính vào gọi là mẩu phụ mào tinh, di tích của trung thận [8]. Sinh lý bệnh giãn tĩnh mạch tinh Nguyên nhân, sinh lý bệnh của GTMT phần lớn vẫn chưa được hiểu biết hết.
Nhiệt độ tinh hoàn tăng, áp lực TM tăng, thiếu oxy, stress oxy hóa, mất cân bằng nội tiết tố và trào ngược các chất chuyển hóa độc hại, nguồn gốc tuyến thượng thận hoặc thận đều có thể do GTMT gây ra, mỗi nguyên nhân được cho là gây ra suy tinh hoàn [43]. Có nhiều cơ chế khác nhau được đưa ra để giải thích cho hiện tượng này. Theo Clavijo có ba giả thuyết được thừa nhận nhiều nhất là giải phẫu của TMT trái, sự khiếm khuyết của hệ thống van TMT và sự chèn ép từ bên ngoài [45], cụ thể là: - Đặc điểm giải phẫu TMT bên trái Giãn tĩnh mạch tinh có thể bị ở hai bên nhưng 90% xảy ra ở một bên và 90% trong số đó là ở bên trái [63], [66].