Đặt vấn đề Từ trước đến nay, chó luôn được xem là người bạn trung thành và thân thiết với con người. Ở Việt Nam, chó được nuôi để giữ nhà, làm cảnh nhưng bệnh ở chó thường rất ít được quan tâm đến. Tuy nhiên, chó thường mắc nhiều bệnh ký sinh trùng như giun, sán, ve, ghẻ, rận,. Những bệnh này thường không có triệu chứng rõ ràng, không gây chết ngay nhưng làm cho con vật gầy còm, chậm lớn, giảm sức đề kháng.
Hơn nữa, các ấu trùng của sán dây ký sinh ở các vật nuôi khác và gây bệnh, làm thiệt hại đến giá trị kinh tế trong ngành chăn nuôi và ảnh hưởng đến sức khỏe con người. Một trong những ấu trùng đó là Cysticercus tenuicollis, đây là ấu trùng của sán dây Taenia hydatigena, gây bệnh trên lợn, dê, cừu, trâu, bò, thỏ, ngựa, kể cả con người. Theo Nguyễn Thị Kỳ (1994) [3], Vương Đức Chất và cs (2004) [1], trên thế giới có khoảng 40 loài sán dây gây bệnh cho chó và các thú ăn thịt thuộc họ chó và mèo. Một trong những loài sán dây gây ra tác hại lớn cho chó đó là sán dây Taenia hydatigena.
Sán dây Taenia hydatigena ký sinh làm cho chó gầy yếu, suy nhược, thiếu máu, có hội chứng viêm ruột, giảm khả năng sinh sản và sẽ chết do kiệt. Bệnh Cysticercus tenuicollis phổ biến ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là những nơi nuôi nhiều chó và chế độ kiểm soát giết mổ không nghiêm ngặt. Khi nhiễm nhẹ, chức năng của các khí quan rối loạn không rõ. Số lượng ấu sán nhiều gây rối loạn chức năng các khí quan trong xoang bụng, gây hiện tượng hoàng đản, con vật mất tính thèm ăn, sốt cao.
Số lượng ấu sán nhiều còn gây chèn ép các khí quan trong xoang bụng, xoang ngực, có thể có triệu chứng của viêm màng bụng cấp tính. 2 Hiện nay, bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, chủ yếu chỉ điều trị triệu chứng. Ngoài ra, việc chẩn đoán bệnh đối với con vật còn sống rất khó khăn do triệu chứng bệnh không điển hình. Đặc biệt, ấu trùng ký sinh trên bề mặt các khí quan trong xoang bụng nên không thể sử dụng các phương pháp xét nghiệm thông thường để tìm ấu trùng.
P (2013) [28], cho đến nay chẩn đoán bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis chỉ có thể thực hiện sau khi gia súc chết. Những vấn đề trên cho thấy, việc tìm hiểu đặc điểm dịch tễ bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra để từ đó xây dựng các quy trình phòng chống thích hợp là hết sức cần thiết. Nghiên cứu này không những góp phần hạn chế tỷ lệ nhiễm ấu trùng sán dây mà còn góp phần phòng chống bệnh ấu trùng sán dây cho người và một số loài vật nuôi khác. Xuất phát từ thực tiễn trên, chúng tôi thực hiện đề tài: "Kết quả bước đầu sử dụng kháng nguyên chế tạo từ ấu trùng Cysticercus tenuicollis để chẩn đoán bệnh trên lợn và dê tại Thái Nguyên”.
Mục đích của đề tài Nghiên cứu chế tạo được kháng nguyên từ ấu trùng Cysticercus tenuicollis để chẩn đoán bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra bằng phương pháp biến thái nội bì. Mục tiêu của đề tài - Nghiên cứu chế tạo kháng nguyên phục vụ việc chẩn đoán bệnh. - Xác định độ nhạy, độ đặc hiệu của kháng nguyên chế tạo. - Thử nghiệm kháng nguyên trong chẩn đoán bệnh Cysticercus tenuicollis ở dê và lợn trên thực địa.
Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học Kết quả của đề tài là những thông tin khoa trong chế tạo kháng nguyên từ ấu trùng sán dây Cysticercus tenuicollis, về các chỉ tiêu của kháng nguyên như: độ nhạy, độ đặc hiệu và độ ổn định của kháng nguyên chế tạo, từ đó thử nghiệm kháng nguyên trong chẩn đoán bệnh Cysticercus tenuicollis ở dê và lợn trên thực địa. Ý nghĩa thực tiễn Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học để khuyến cáo người chăn nuôi áp dụng quy trình phòng, trị bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra, nhằm hạn chế tỷ lệ và cường độ nhiễm, hạn chế thiệt hại do bệnh gây ra. Góp phần nâng cao năng suất chăn nuôi, thúc đẩy nghề chăn nuôi dê phát triển.
4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Sán dây ký sinh ở chó và ấu trùng sán dây Cysticercus tenuicollis 2. Đặc điểm sinh học của sán dây ký sinh ở chó 2. Vị trí của sán dây chó trong hệ thống phân loại động vật học Việc nghiên cứu sán dây ở Việt Nam được bắt đầu từ hơn 1 thế kỷ trước.
lần đầu tiên mô tả loài sán dây Diphyllobothrium latum tìm thấy ở người Nam Bộ (Việt Nam). Sau đó 10 năm mới xuất hiện các công trình nghiên cứu lẻ tẻ về một vài loài sán dây gây bệnh cho người. Từ đó, việc nghiên cứu về thành phần sán dây ở người được chú ý hơn, rồi mở rộng phạm vi nghiên cứu sang một số động vật nuôi và một số động vật hoang dã. Năm 1914, Casaux đã phát hiện được ở gan người hai nang sán Cysticercus tenuicollis của loài sán Taenia hydatigena ký sinh ở chó.
Cho đến nay các hệ thống phân loại sán dây đã trải qua nhiều thay đổi, song dường như vẫn chưa được thống nhất và ổn định (Nguyễn Thị Kỳ, 2003) [4]. Theo Phan Thế Việt và cs (1977) [14], Nguyễn Thị Kỳ (1994) [3], (2003) [4], Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [10], hệ thống phân loại sán dây của Việt Nam đã được sắp xếp theo hệ thống phân loại của Schulz và Gvozdev (1970), để sắp xếp các loài sán dây phát hiện được ở người, chim, thú nuôi và hoang dại ở Việt Nam. Trong đó, sán dây ký sinh ở chó có vị trí như sau: Ngành sán dẹp (Plathelminthes) Lớp Cestoda Rudolphi, 1808 Phân lớp Eucestoda Southwell, 1930 Bộ Pseudophyllidea Carus, 1863 Họ Diphylloborthriidae Luhe, 1910 5 Giống Spirometra Mueller, 1937 Loài Spirometra erinacei-europaei (Rudolphi, 1819) Mueller, 1937 Loài Spirometra mansonoides (Mueller, 1935) Mueller, 1937 Bộ Cyclophyllidea Beneden in Braun, 1900 Phân bộ Hymenolepidata Skrjabin, 1940 Họ Dipylidiidae Mola, 1929 Giống Dipylidium Leuckart, 1863 Loài Dipylidium caninum Leuckart, 1758 Phân bộ Tta Skrjabin et Schulz, 1937 Họ Taeniidae Ludwig, 1886 Giống Taenia Linnaeus, 1758 Loài Taenia hydatigena Pallas, 1766 Loài Taenia pisiformis Bloch, 1780 Giống Echinococcus Rudolphi, 1801 Loài Echinococcus granulosus Batsch, 1786 Giống Multiceps Goeze, 1782 Loài Multiceps multiceps Leske, 1780. Phân bộ Mesocestoidata Skrjabin, 1940 Họ Mesocestoididae Perrier, 1897 Giống Mesocestoides, Wailand, 1863 Loài Mesocestoides lineatus Goeze, 1782 Phan Thế Việt và cs (1977) [14], Nguyễn Thị Kỳ (1994) [3], Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [10], khi đề cập về thành phần loài sán dây ký sinh trên chó ở nước ta đều thống nhất rằng, các loài sán dây ký sinh ở chó đã tìm thấy ở Việt Nam gồm: Diphyllobothrium mansoni, Diphyllobothrium reptans, Dipylidium 6 caninum, Taenia hydatigena, Taenia pisiformis, Multiceps multicep, Echinococcus granulosus, Mesocestoides lineatus.
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [5]: tính đến thời điểm hiện tại đã phát hiện hơn 30 loài sán dây ký sinh ở loài ăn thịt gây bệnh cho chó, mèo. Chúng đều thuộc bộ Cyclophyllidea và Pseudophyllidea. Phạm Sỹ Lăng (2002) [9] cho biết: đã phát hiện được 8 loài sán dây ký sinh trên chó ở miền Bắc Việt Nam. Việc mô tả hình thái các loài sán dây còn có nhiều thiếu sót, một số loài chưa có mô tả trên mẫu vật Việt Nam.
(1870) là người đầu tiên mô tả loài sán dây Diphyllobothrium latum tìm thấy ở Nam Bộ trên người. Sau này một số nhà ký sinh trùng học Việt Nam như Đỗ Dương Thái và cs (1978) [11] loài thuộc giống Diphyllobothrium ký sinh ở người Việt Nam không phải là Diphyllobothrium latum mà là loài Diphyllobothrium mansoni. Sự phán đoán này không dựa trên mẫu nên không có sự mô tả loài. Theo tài liệu mới nhất về họ Diphyllobothiidae của các tác giả Delaimure S.
(1985) Diphyllobothrium mansoni không là tên động vật của một loài nào trong họ này. Khi nói về lịch sử nghiên cứu loài Diphyllobothrium latum, các tác giả còn cho rằng, loài Spirometra erinacei-europaei của vùng nam bán cầu là một định dạng sai lầm và cho rằng chính loài này là Diphyllobothrium latum. Tuy nhiên, các tác giả có ý định xem xét vị trí phân loại của giống Spirometra Mueller, 1937 và muốn coi giống này là giống chuẩn để thành lập họ Spirometridae (dẫn theo Nguyễn Thị Kỳ, (2003) [4]. Nguyễn Thị Kỳ (2003) [4] cho biết: ở Việt Nam, hiện loài Diphyllobothrium mansoni, Diphyllobothrium reptans còn chưa rõ vị trí phân 7 loại và không có mẫu.
Nguyễn Thị Kỳ (2003) [4], đã xem xét lại toàn bộ vị trí phân loại và tình trạng mẫu, tình hình nghiên cứu về từng loài, đã tu chỉnh một loài Spirometra erinacei- europaei (Rudolphi, 1819) Mueller, 1937. Hiện nay trên thế giới có khoảng 40 loài sán dây gây bệnh cho chó và các thú ăn thịt thuộc họ chó, mèo (Vương Đức Chất và cs, 2004 [1]). Theo Phan Thế Việt và cs (1977) [14], nghiên cứu giun sán ký sinh ở Việt Nam phát hiện thấy các lớp giun sán ký sinh định danh như sau: lớp Trematoda, lớp Nematoda và lớp Cestoda; trong lớp Cestoda dê bị nhiễm các loài Taenia hydatigena và Moniezia expansa. Đặc điểm hình thái, cấu tạo của sán dây chó * Đặc điểm chung: Phan Thế Việt và cs (1977) [14], Nguyễn Thị Kỳ (1994) [3], (2003) [4], Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [10], cho biết: Sán dây chó có những đặc điểm của lớp sán dây nói chung: hình dải băng màu trắng hoặc trắng ngà.
Cơ thể dài, dẹp theo hướng lưng bụng, chia thành ba phần: đầu, cổ, thân (gồm những đốt sau cổ, có hình dạng và cấu tạo khác nhau). Đầu sán dùng để bám vào thành ruột vật chủ, nên có những hình dạng, kích thước và các cơ quan bám đặc trưng. Chiều rộng của đầu thường chỉ nhỏ hơn 1 mm, nhưng cũng có sán có đầu dài vài mm. Cơ quan bám nằm trên đầu bao gồm rãnh bám hoặc giác bám, mõm, vòi và có nhiều móc.
Ở một số loài sán dây trên móc bám có các móc bé xếp thành nhiều hàng. Giác bám là bộ phận đặc trưng của sán dây bậc cao. Móc bám nằm ngay trên đầu hay ở phần cuối vòi, sắp xếp thành một hay hai hàng. Số lượng móc ở các nhóm sán dây dao động từ vài móc đến vài trăm móc.
Kích thước, cấu tạo và số lượng móc cố định cho mỗi loài. 8 Cổ là những đốt sán nối tiếp sau đầu. Đốt cổ của sán dây là đốt sinh trưởng, từ các đốt cổ sinh ra các đốt thân, cơ quan sinh sản ở các đốt cổ chưa hình thành rõ. Thân sán dây lại gồm ba loại đốt: những đốt chưa thành thục về sinh dục (ở gần cổ), cơ quan sinh dục chưa phát triển đầy đủ, chỉ thấy cơ quan sinh dục đực.