Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM TRONG DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm, bản chất, vai trò và nhiệm vụ kế toán trách nhiệm trong doanh nghiệp 1. Khái niệm kế toán trách nhiệm Khái niệm kế toán trách nhiệm được nhiều tác giả nghiên cứu và tiếp cận khái niệm kế toán trách nhiệm ở những góc độ khác nhau, cụ thể: Theo Clive Emmanuel, David Otley and Kenneth Mar-chant (1992) “KTTN là sự thu thập tổng hợp và báo cáo những thông tin tài chính về những trung tâm khác nhau trong một tổ chức (những trung tâm trách nhiệm), cũng còn được gọi là kế toán hoạt động hay kế toán khả năng sinh lợi”. mark Young (2000) khẳng định: “KTTN là một hệ thống kế toán có chức năng thu thập, tổng hợp và báo cáo các dữ liệu kế toán có liên quan đến trách nhiệm của từng nhà quản lý riêng biệt trong một tổ chức, cung cấp thông tin nhằm đánh giá trách nhiệm và thành quả mỗi nhà quản lý tạo ra các báo cáo chứa cả những đối tượng có thể kiểm soát và không thể kiểm soát đối với một cấp quản lý”.
[15] Theo các tác giả Việt Nam, tác giả Huỳnh Lợi (2012) “cho rằng KTTN là một hệ thống thừa nhận mỗi bộ phận (thành viên, con người) trong một tổ chức có quyền chỉ đạo và chịu trách nhiệm về những nghiệp vụ riêng biệt thuộc về phạm vi quản lý của mình, họ phải xác định, đánh giá và báo cáo cho tổ chức, thông qua đó các cấp quản lý cao hơn sử dụng các thông tin này để đánh giá thành quả của các bộ phận trong tổ chức”. [9] Theo Weygandt, Kieso và Kimmel (2018) “cho rằng KTTN là một bộ phận của kế toán quản trị mà liên quan đến việc tích lũy, báo cáo về thu nhập và chi phí trên cơ sở nhà quản lý có quyền đưa ra những quyết định trong hoạt động hằng ngày về các vấn đề đó”. [20] Nhóm tác giả Phạm văn Dược và Nguyễn Thị Thu Hiền (2010) “đề cập KTTN là hệ thống kế toán tập hợp kết quả theo từng lĩnh vực thuộc trách nhiệm cá nhân, bộ phận, nhằm giám sát và đánh giá kết quả của từng bộ phận trong tổ chức. 11 Kế toán trách nhiệm được xem như là hệ thống thu thập, xử lý và truyền đạt các thông tin tài chính và phi tài chính có thể kiểm soát theo phạm vi trách nhiệm của từng nhà quản trị nhằm đạt được mục tiêu chung của tổ chức; Kế toán trách nhiệm là một trong những nội dung cơ bản trong kế toán quản trị tại doanh nghiệp (DN) và là một trong những công cụ quản lý kinh tế tài chính có vai trò quan trọng trong điều hành, kiểm soát cũng như đánh giá hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị.
Kế toán trách nhiệm (KTTN) là phương pháp kế toán thu thập, ghi nhận, báo cáo và đo lường kết quả hoạt động của từng bộ phận để đánh giá thành quả, kiểm soát quá trình hoạt động và chi phí phát sinh của các bộ phận trong việc thực hiện mục tiêu chung của doanh nghiệp (DN)”. [6] Hiện nay có khá nhiều định nghĩa khác nhau liên quan tới KTTN, mặc dù vậy những định nghĩa trên không cho thấy sự đối lập nhau mà mang tính hỗ trợ cho nhau, điều này thể hiện ở đánh giá của từng tác giả về giá trị, điểm nổi bật và mô hình tổ chức KTTN trong DN, qua đó ta có thể đánh giá đúng hơn về KTTN. Thực tế cho thấy, KTTN giống như một phương thức kế toán thu thập, tiếp nhận, lưu trữ, chuyền tài và xác định kết quả hoạt động của mỗi bộ phận nhằm có được đánh giá đúng nhất về hiệu quả mà từng bộ phận đem lại, giám sát tốt mọi hoạt động đang diễn ra và quản lý các chi phí phát sinh trong những bộ phận của tổ chức, liên kết các bộ phận với nhau để hoàn thành tiêu chí DN đề ra. Bản chất của kế toán trách nhiệm Trong các DN sẽ chia ra từng bộ phận khác nhau, theo đó mỗi bộ phận sẽ đảm nhiệm một công việc nhất định.
Ở từng bộ phận sẽ phân công cho mỗi cá nhân thực hiện các công việc cụ thể. Vì vậy, muốn hoàn thành tốt mục tiêu mà DN đề ra thì mỗi cá nhân hay bộ phận đều cần cố gắng hết sức để làm tốt công việc được giao cũng như đạt được mục tiêu mà đơn vị quản lý cấp cao đưa ra trong phạm vi bộ phận. Nhằm quản lý tốt mọi hoạt động của cấp dưới, những NQL cấp cao đã thông qua hệ thống KTTN. KTTN thực chất là một hệ thống có thể tiếp nhận, giải quyết và truyền tải mọi thông tin liên quan tới tài chính cũng như phi tài chính được quản lý trong phạm vi nhiệm vụ của NQT giúp hoàn thành tiêu chí chung của tổ chức.
12 Nhiệm vụ chính của KTTN là phân cấp để quản lý, giám sát, giao nhiệm vụ và hoàn thành các công việc trong phạm vi quản lý của mình. Công tác phân cấp quản lý có một cơ cấu khá đa dạng và yêu cầu cấp trên phải biết được hiệu quả công việc mà cấp dưới đạt được. Do đó, KTTN được tạo ra nhằm kiểm soát hiệu quả trong việc áp dụng NNL của DN. Thông thường, KTTN sẽ được sử dụng cho những DN đã có CCTC quản lý cụ thể và chi tiết nhất.
Tùy thuộc vào đặc điểm của từng DN mà hệ thống KTTN được hình thành để tưng ứng với cơ cấu quản lý, mức độ phân quyền cũng như tiêu chí của DN đó. Trên thực tế, KTTN thuộc một phần cơ bản trong KTQT. Theo đó, KTTN sẽ nằm trong một tổ chức hoạt động mà NQT của bộ phận đó sẽ đảm nhiệm mọi công việc có trong bộ phận do NQT cấp cao giao cho. Từ đó, mọi thông tin liên quan tới tình hình HĐKD sẽ được truyền tải một cách đầy đủ nhất và chỉ ra lý do cũng như cho biết bộ phận nào giám sát những khâu nào trong hoạt động của DN.
KTTN được sử dụng như một công cụ hữu ích trong việc quản lý tình hình kinh tế tài chính, cần thiết cho quá trình điều hành, giám sát và đánh giá về kết quả HĐSX của các bộ phận có trong DN. Bên cạnh đó, KTTN còn đưa đến các thông tin liên quan tới đầu vào – NNL đã tiêu hao và đầu ra – lợi nhuận, hiệu quả HĐSX, CLDV. đúng với mục tiêu và tình hình hiện tại của DN. Qua đó, tiến hành so sánh thực tế quá trình thực hiện với dựa toán đưa ra nhằm xác định những sai lệch, điều này giúp DN dễ dàng nắm bắt tình hình và các khoản phát sinh ở mỗi bộ phận.
Vai trò và nhiệm vụ của kế toán trách nhiệm * Vai trò của kế toán trách nhiệm: Để thực hiện thì trước tiên các nhà KTQT cần tham gia vào quá trình hình thành và xây dựng chiến lược, kế tiếp là biến mục tiêu và năng lực trở thành các giải pháp quản trị hiệu quả. KTQT đã làm thay đổi vai trò từ một người chuyên nắm giữ chứng từ, sổ sách trước khia giờ đã đảm nhiệm công việc thiết kế hệ thống thông tin quản trị quan trọng của DN. KTTN giúp sắp xếp nội dung có trong một tổ chức thành các trung tâm trách nhiệm tương ứng nhằm xác định biểu hiện của chúng. Đây là công cụ hữu hiệu giúp 13 biết được hiệu quả hoạt động mà mỗi bộ phận có trong tổ chức tạo ra, điều này giúp NQT dễ dàng giám sát và đánh giá đúng nhất về vai trò quản trị của mỗi cấp.
Nhiệm vụ của KTTN được thể hiện cụ thể như sau: KTTN cho thấy hiệu quả mà mỗi bộ phận đem lại để tạo ra lợi nhuận của tổ chức. Tạo điều kiện đánh giá về chất lượng hoạt động của NQL bộ phận, mặt khác KTTN còn dùng vào mục đích xác định hiệu quả hoạt động của NQL, vì nó tác động tới quá trình thực hiện hành vi của NQL. Bên cạnh đó, KTTN còn đẩy mạnh hoạt động điều hành của NQL trong mỗi bộ phận để tương ứng với tiêu chí đặt ra trong tổ chức. * Nhiệm vụ của KTTT: Vì thế, KTTN là hoạt động hết sức cần thiết trong công tác giám sát và đánh giá về hiệu quả hoat động của các bộ phận có trong tổ chức.
Mục tiêu chính của KTTN đó là xác định và đánh gia chi tiết về hiệu quả hoạt động mà mỗi bộ phận trong đơn vị tạo ra, điều này hỗ trợ cho NQT dễ dàng kiểm tra và đánh giá đúng nhất về vai trò quản trị của từng cấp quản lý. Nhiệm vụ của KTTN đó là: Thứ nhất, KTTN chỉ ra mức độ ảnh hưởng của mỗi đơn vị và bộ phận tới lợi nhuận của tổ chức. Thứ hai, KTTN tạo điều kiện cho công tác đánh giá chất lượng quá trình hoạt động của các NQL bộ phận và chỉ ra được trung tâm trách nhiệm, từ đó những NQL sẽ dễ dàng hơn trong việc tổng hợp tất cả nhiệm vụ của trung tâm trách nhiệm để xây dựng tiêu chí đánh giá chung. Thứ ba, KTTN thường dùng vào mục đích đo lường hiệu quả hoạt động của những NQL, vì đã tác động tới quá trình diễn ra hành vi của các NQL này.
Thứ tư, KTTN hỗ trợ NQL bộ phận trong công tác quản lý để tương ứng với tiêu chí mà tổ chức đặt ra. Chiến lược hoạt động của các DN thường đi đôi với các trung tâm trách nhiệm. Đây là lý do khiến NQL của trung tâm trách nhiệm sẽ phải đưa ra cách thức hoạt động hợp lý nhất để phù hợp với tiêu chí mà DN đưa ra. Thứ năm, KTTN giúp giám sát và đánh giá đúng nhất về hiệu quả hoạt động của DN.
Mặt khác, KTTN cũng hỗ trợ NQT mỗi cấp biết được nhiệm vụ mà NQT cấp cao giao cho và phải hoàn thành nó để thực hiện mục tiêu đề ra. KTTN còn giúp NQT mỗi cấp đánh giá về HĐKD của từng bộ phận. Qua đó, NQT cấp dưới sẽ chủ 14 động hơn trong việc đưa ra quyết định kinh doanh, còn NQT cấp cao sẽ đưa ra quyết định chiến lược kinh doanh. Sự phân cấp quản lý và mối quan hệ với kế toán trách nhiệm 1.
Sự phân cấp quản lý và các mô hình phân cấp quản lý KTTN giống như một nhiệm vụ gắn liền với trung tâm trách nhiệm. Dựa vào quá trình phân cấp để tạo ra các trung tâm trách nhiệm. Phân cấp quản lý thực chất là những nhiệm vụ mà NQL cấp cao giao cho NQL cấp thấp, theo đó NQL cấp dưới chỉ được đưa ra quyết định theo đúng quyền hạn của mình.