chương 1 Luật thuế Giá trị gia tăng được Quốc hội thông qua ngày 03 tháng 6 năm 2008 cho rằng: Thuế Giá trị gia tăng là thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh từ quá trình kinh doanh, lưu thông đến tiêu dùng. Thuế GTGT mang tính xã hội hóa cao, đòi hỏi người nộp thuế (NNT) phải có ý thức trong việc chấp hành chính sách thuế nói chung và chính sách về thuế GTGT nói riêng. Đặc biệt trong mô hình quản lý theo chức năng, NNT tự tính tự khai, tự nộp hiện nay.2 Đặc điểm của thuế GTGT: - Thuế GTGT là một loại thuế gián thu đánh vào đối tượng tiêu dùng HHDV chịu thuế GTGT, là một yếu tố cấu thành trong giá cả hàng hoá và dịch vụ, là khoản thu được cộng thêm vào giá bán của người cung cấp. Tính gián thu của thuế GTGT biểu hiện: người mua HHDV là người phải trả khoản thuế này thông qua giá mua của HHDV.
Người mua không trực tiếp nộp thuế GTGT vào NSNN mà trả thuế thông qua giá thanh toán HHDV cho người bán. Người bán thực hiện nộp khoản thuế GTGT phải nộp đã được người mua trả vào NSNN. - Thuế GTGT đánh vào GTGT của HHDV phát sinh ở các giai đoạn từ kinh doanh, lưu thông đến tiêu dùng. Tổng số thuế GTGT thu được ở tất cả các giai đoạn sẽ bằng số thuế GTGT tính trên giá bán cho người tiêu dùng cuối cùng.
- Thuế GTGT là một loại thuế có tính trung lập cao, biểu hiện ở hai khía cạnh: Thứ nhất, thuế GTGT không chịu ảnh hưởng bởi kết quả kinh doanh của Luan van 14 người nộp thuế, không phải là yếu tố của chi phí kinh doanh mà chỉ đơn thuần là một khoản thu được cộng thêm vào giá bán của người cung cấp HHDV. Thứ hai, thuế GTGT không bị ảnh hưởng bởi quá trình tổ chức và phân chia quá trình sản xuất kinh doanh, tổng số thuế ở tất cả các giai đoạn luôn bằng số thuế tính trên giá bán ở giai đoạn cuối cùng. - Về phạm vi đánh thuế: thuế GTGT chỉ đánh vào hoạt động tiêu dùng diễn ra trong phạm vi lãnh thổ, không đánh vào hành vi tiêu dùng ngoài lãnh thổ.3 Vai trò của thuế GTGT: Một là, thuế GTGT là sắc thuế có nguồn thu quan trọng của NSNN - Thuế GTGT là nguồn thu quan trọng và ổn định cho NSNN, Thuế GTGT huy động và xác định ngay từ khâu đầu và việc thu thuế GTGT ở khâu sau còn kiểm tra việc tính thuế GTGT đã nộp ở khâu trước nên hạn chế được việc thất thu thuế, kiểm soát được nguồn thu trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế. - Kể từ khi luật thuế GTGT chính thức được thực thi, Chính phủ và Bộ Tài chính đã ban hành các văn bản pháp quy để hướng dẫn sửa đổi bổ sung.
Thuế GTGT đã và đang từng bước được hoàn thiện, khắc phục những tồn tại vốn có trong thời kỳ chuyển đổi và ngày một phát huy vai trò của thuế GTGT trong nền kinh tế thị trường đầy biến động, đảm bảo tính khoa học, tính thực tiễn của một sắc thuế trong điều kiện kinh tế thị trường. Hai là, thuế GTGT góp phần điều tiết vĩ mô, vi mô nền kinh tế Luật thuế GTGT quy định các mặt hàng hóa, dịch vụ chịu thuế và 11 không chịu thuế; về thuế suất cũng áp dụng các mức thuế suất khác nhau cho các nhóm hàng hóa dịch vụ. Thông qua công cụ thuế nó tác động và làm thay đổi mối quan hệ cung và cầu trên thị trường từ đó tác động đến sự đầu tư, sản suất và việc lựa chọn hàng hóa để sản suất kinh doanh và tiêu dùng. Từ đó góp phần điều tiết sản suất và và tiêu dùng; khuyến khích xuât khẩu hàng hóa; điều tiết thu nhập, đảm bảo tính công bằng xã hội; khuyến khích tăng năng suất, phát triển kinh tế xã hội.
Ba là, thuế GTGT là công cụ kiểm soát hoạt động sản suất kinh doanh Thuế GTGT góp phần tăng cường công tác hạch toán kế toán và thúc đẩy việc mua bán Luan van 15 hàng hoá phải có đầy đủ chứng từ hoá đơn hợp lệ theo luật định. Việc đăng ký mã thuế cùng với phương pháp khấu trừ thuế đã buộc cả người mua, người bán thực hiện tốt hơn chế độ hoá đơn, chứng từ trong các hoạt động thanh toán 1.2 Một số nội dung cơ bản về thuế GTGT hiện hành: Thứ nhất, về phạm vi áp dụng Đối tượng chịu thuế GTGT là hàng hoá, dịch vụ dùng cho kinh doanh, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam (bao gồm cả hàng hóa, dịch vụ mua của tổ chức, cá nhân ở nước ngoài). Người nộp thuế GTGT là tổ chức, cá nhân kinh doanh, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT ở Việt Nam, không phân biệt ngành nghề, hình thức, tổ chức kinh doanh (sau đây gọi là cơ sở kinh doanh) và tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hóa, mua dịch vụ từ nước ngoài chịu thuế GTGT (sau đây gọi là người nhập khẩu) bao gồm: - Doanh nghiệp Nhà nước (nay là Luật Doanh nghiệp), Luật Hợp tác xã và pháp luật kinh doanh chuyên ngành khác; - Các tổ chức kinh tế của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức sự nghiệp và các tổ chức khác; - Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và bên nước ngoài tham gia hợp tác kinh doanh theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (nay là Luật đầu tư); các tổ chức, cá nhân nước ngoài hoạt động kinh doanh ở Việt Nam nhưng không thành lập pháp nhân tại Việt Nam; - Cá nhân, hộ gia đình, nhóm người kinh doanh độc lập và các đối tượng khác có hoạt động kinh doanh, kinh doanh, nhập khẩu; - Tổ chức, cá nhân kinh doanh kinh doanh tại Việt Nam mua dịch vụ (kể cả trường hợp mua dịch vụ gắn với hàng hóa) của tổ chức nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam, cá nhân ở nước ngoài là đối tượng không cư trú tại Việt Nam thì tổ chức, cá nhân mua dịch vụ là người nộp thuế, trừ trường hợp không phải kê khai, tính nộp thuế GTGT hướng dẫn tại khoản 2 Điều 5 Thông tư này. Luan van 16 - Chi nhánh của doanh nghiệp chế xuất được thành lập để hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa tại Việt Nam theo quy định của pháp luật về khu công nghiệp, khu chế xuất và khu kinh tế.
Thứ hai, đối tượng không chịu thuế GTGT : Theo nguyên tắc của thuế GTGT thì mọi HHDV tiêu dùng ở Việt Nam đều thuộc đối tượng chịu thuế GTGT. Tuy nhiên, trong quy định của Luật thuế GTGT ở nước ta cũng như các nước đều có quy định các đối tượng không chịu thuế GTGT. Đối tượng cụ thể các nước quy định có khác nhau, ở nước ta theo quy định hiện hành có 26 nhóm HHDV thuộc diện không chịu thuế GTGT. Đó là các hoạt động có tính chất đặc biệt mà Nhà nước không đặt vấn đề điều tiết tiêu dùng, bao gồm: Hàng hóa, dịch vụ của một số ngành đang còn khó khăn, được Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện để phát triển như: sản xuất nông nghiệp, muối, máy móc thiết bị chuyên dùng loại trong nước chưa sản xuất được, giống vật nuôi và giống cây trồng.
Hàng hóa của một số ngành đặc thù không mang tính chất kinh doanh thu lợi nhuận hoặc mang tính xã hội, nhân đạo, phục vụ cộng đồng như: Bảo hiểm nhân thọ, một số bảo hiểm tai nạn, dịch vụ khám chữa bệnh, giáo dục, truyền hình, xuất bản, vũ khí và tài khí phục vụ quốc phòng. Hàng hóa, dịch vụ được miễn thuế theo Thông lệ quốc tế như hàng hóa bán cho các tổ chức nước ngoài, người nước ngoài để viện trợ nhân đạo, viện trợ không hoàn lại cho Việt Nam. Hàng hóa, dịch vụ không thuộc diện chịu thuế GTGT theo quy định không được khấu trừ và hoàn thuế GTGT đầu vào. Thứ ba, về căn cứ tính thuế GTGT.
*Căn cứ tính thuế giá trị gia tăng là giá tính thuế và thuế suất. - Giá tính thuế giá trị gia tăng được quy định như sau: a) Đối với hàng hóa, dịch vụ do cơ sở sản xuất, kinh doanh bán ra là giá bán chưa có thuế giá trị gia tăng. Đối với hàng hóa, dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt là giá bán đã có thuế tiêu thụ đặc biệt nhưng chưa có thuế giá trị gia tăng; Luan van 17 Đối với hàng hóa chịu thuế bảo vệ môi trường là giá bán đã có thuế bảo vệ môi trường nhưng chưa có thuế giá trị gia tăng; đối với hàng hóa vừa chịu thuế tiêu thụ đặc biệt, vừa chịu thuế bảo vệ môi trường là giá bán đã có thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế bảo vệ môi trường nhưng chưa có thuế giá trị gia tăng. b) Đối với hàng hóa nhập khẩu là giá nhập tại cửa khẩu cộng (+) với thuế nhập khẩu (nếu có), cộng (+) với thuế tiêu thụ đặc biệt (nếu có), cộng (+) với thuế bảo vệ môi trường (nếu có).
Giá nhập tại cửa khẩu được xác định theo quy định về giá tính thuế hàng nhập khẩu. Trường hợp hàng hóa nhập khẩu được miễn, giảm thuế nhập khẩu thì giá tính thuế GTGT là giá nhập khẩu cộng (+) với thuế nhập khẩu xác định theo mức thuế phải nộp sau khi đã được miễn, giảm. c) Đối với sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ (kể cả mua ngoài hoặc do cơ sở kinh doanh tự kinh doanh) dùng để trao đổi, biếu, tặng, cho, trả thay lương, là giá tính thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ cùng loại hoặc tương đương tại thời điểm phát sinh các hoạt động này. d) Giá tính thuế đối với sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ tiêu dùng nội bộ.
- Hàng hóa luân chuyển nội bộ như hàng hóa được xuất để chuyển kho nội bộ, xuất vật tư, bán thành phẩm, để tiếp tục quá trình kinh doanh trong một cơ sở kinh doanh, kinh doanh hoặc hàng hóa, dịch vụ do cơ sở kinh doanh xuất hoặc cung ứng sử dụng phục vụ hoạt động kinh doanh thì không phải tính, nộp thuế GTGT. Trường hợp cơ sở kinh doanh tự kinh doanh, xây dựng tài sản cố định (tài sản cố định tự làm) để phục vụ kinh doanh, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT thì khi hoàn thành, nghiệm thu, bàn giao, cơ sở kinh doanh không phải lập hóa đơn. Thuế GTGT đầu vào hình thành nên tài sản cố định tự làm được kê khai, khấu trừ theo quy định.