Chương IT NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA GIAO DỊCH KINH DOANH yếu Những uấn đề chủ yếu của chương: Giao dịch là tất của chúng ta. Giao dịch kính doanh vita trong cuộc sống đặc thù. mang bản chất chung của xã giao vita có những Nghiên cứu những học thuyết cơ bản trong giao dịch giúp u¡ trong chúng ta có cơ sở lý thuyết để thực hiện các hành có của nhà kính giao dịch kinh doanh. Những phẩm chất cần doanh như những tiêu chí cho mỗi người phấn đấu.
KHÁI NIỆM CHƯNG VỀ GIAO DỊCH KINH 1. Sự cần thiết phải giao dịch kinh doanh người là Khi định nghĩa về con người Mác đã viết: "Con phải sống trong tổng hoà của các quan hệ xã hội". Cơn người người không xã hội loài người; sống đơn lẻ xa cách xã hội con người. Giao địch với phát triển, không tốn tại đúng nghĩa con thể thiếu được nhau là phương cách sống, là như cầu không thì yêu cầu của con người, Xã hội càng biện đại văn minh phương tiện hỗ trợ giao dịch càng phát triển và các điều kiện, cho giao dịch rất phong phú, đa dạng.
Khoảng Xã hội hiện đại vận động, biến đổi không ngừng giữa cái đúng, cách giữa các cá tính ngày càng xa; ranh giới s15, GIÁO TRÌNH GIAO DỊCH VÀ DAM PHAN KINH DOANH — <>. — cái sai, cái thiện, cái ác, cái tốt, cái xấu rất mong manh. Do vậy mỗi con người cần có năng lực nhận thức cao để nhìn nhận đúng bản chất các quan hệ. Xã hội hiện đại mang đậm dấu ấn của khoa học kỹ thuật, trị thức và nghệ thuật giải quyết các tình huống đa dạng, phức tạp.
Trong xã hội ấy nguyên tắc chung nhất trong giao dịch cần được xác lập là: Thứ nhất, tính hiệu quả. Tức là phải tính toán kết quả thu được với chỉ phí bỏ ra là tối ưu nhất, cả trước mắt và lâu đài. Thứ hai, lợi ích giữa cáo bên tham gia phải được bảo đảm. Nguyên tắc các bên tham gia đều có lợi là kim chỉ nam cho hoạt động giao dịch đàm phán.
Thứ ba, coi trong ca tinh và tôn trọng lẫn nhau. Nguyên tắc này bảo đảm huy động và giải phóng mọi năng lực sáng tạo. Nó cũng tạo nền tảng vững chắc của lòng tin và sự cảm thông sâu sắc. Thứ tử, liên kết và hợp tác để tạo hợp lực và quy tụ sức mạnh.
Trong xã hội ngày nay không ai nhanh chóng đạt được sự thành công chỉ bằng sức của một mình mình, mà cần sự giúp đỡ của người khác. Buôn có bạn, bán có phường là phương châm hành động trong thời đại mới. Hoạt động trên thương trường các nhà kinh doanh, các doanh nghiệp tất yếu nảy sinh các giao dịch. Nền kinh tế quốc dân được hình thành từ các ngành, các vùng, các đơn vị kinh tế.
Nền kinh tế tự nhiên, với đặc trưng cơ bản là sản xuất để thoả mãn nhu cầu của chính người sản xuất, mang nặng tính tự cấp, tự túc khép kín theo các vùng lãnh thổ. Sản phẩm làm ra không phải để trao đổi trên thị trường. Quan hệ sản xuất biểu hiện dưới đạng sơ khai tức là quan hệ .46 tường Đợi học Kinh:lế:Quốc đến. - — Chương II: Những vấn đề cơ bản của giao dịch kinh doanh.
giữa người với người chứ không phải thông qua những sản phẩm lao động của họ. Phân công lao động còn rất thấp kém, quy mê sản xuất nhỏ bé, khép kín. Trong chế độ kinh tế ấy mỗi đơn vị, mỗi vùng lãnh thổ làm đủ mọi công việc kế từ việc sản xuất các nguyên liệu, đến việc tổ chức sản xuất và tiêu đòng sản phẩm. Giữa các tổ chức, đơn vị và cá nhân không hình thành các mối quan hệ trao đổi sản phẩm.
Giao dịch chỉ mang tính chất thoả mãn các nhu cầu quan hệ thuần tuý tỉnh thần con người. Phân công lao động xã hội và sở hữu khác nhau về tư liệu sân xuất đã làm nảy sinh ra nền sản xuất hàng hoá đối lập với nền kinh tế tự nhiên. Sản xuất hàng hoá là nền sản xuất có mục tiêu ngay từ đầu, từ trước là hướng vào trao đối, hướng vào thị trường chứ không phải để thoả mãn nhu cầu của chính người sản xuất. Trong nền sản xuất hàng hoá mỗi đơn vị kinh tế là một chủ thể kinh tế độc lập.
Các tổ chức kinh tế ấy tách biệt với nhau một cách tương đối. Vấn để sản xuất cái gì? Bao nhiêu? Cho ai? là công việc riêng của mỗi doanh nghiệp. Hàng hoá bán ra trên thị trường là sở hữu của doanh nghiệp. Như vậy, do đặc điểm của sản xuất hàng hoá đã làm cho các doanh nghiệp tách biệt với nhau.
Mặt khác, chúng ta lại thấy rằng phân công lao động xã hội sẽ dẫn đến chuyên môn hoá sản xuất. Tức là hình thành các vùng, các doanh nghiệp chỉ chuyên môn hoá sản xuất một thứ, một loại hàng hoá nhất định. Trong cuộc sống cũng như trong sản xuất người ta cần dùng rất nhiều thứ, rất nhiều loại khác nhau. Trong khi đó lại chỉ sản xuất được một số thứ.
Do đó các doanh nghiệp có sự phụ thuộc lẫn nhau, „¡Trường Đại học Kinh tế Quốc dôn -. _ GIÁO TRÌNH GIÁO DỊCH VÀ ĐÀM PHÁN KỈNH DOANH nương tựa vào nhau để tổn tại và phát triển, Sản xuất càng mở rộng, da dạng, trình độ ngày càng cao thì phân công lao động xã hội ngày càng trở nên sâu sắc. Phân công lao động xã hội phát triển, mở rộng ra lại làm cho các doanh nghiệp phụ thuộc mạnh mẽ, chặt chẽ và phức tạp hơn. Đứng trên giác độ phân công lao động xã hội thì quan hệ giữa các doanh nghiệp là quan hệ mâu thuẫn.
Một mặt độc lập với nhau để xác định chủ sở hữu của hàng hoá đem ra trao đối, mua bán; M ặt khác phụ thuộc lẫn nhau vĩ do phân công lao động xã hội, không ai có thể tự làm ra tất cả để thoả mãn hết mọi nhu cầu muôn hình muôn về của mình. Vừa độc lập với nhau, vừa phụ thuộc lẫn nhau là mâu thuẫn giữa các doanh nghiệp. Để giải quyết mâu thuẫn này các doanh nghiệp phải tiến hành trao đổi hoạt động với nhau thông qua sản phẩm hàng hoá. Lúc đầu người ta trao đổi trực tiếp sản phẩm.
Rhi tiển tệ ra đời thì người ta trao đổi thông qua mua bán bằng tiền. Nếu quan hệ trao đổi, mua bán được thực hiện thì mâu thuẫn được giải quyết. Trải lại, quan hệ đó không được giải quyết thì mâu thuẫn giữa các doanh nghiệp vẫn còn tổn tại. Giao dịch trong nền kinh tế quốc đân ngày càng trở nên phức tạp hơn đo có nhiều nhân tố tác động tới quá trình này.
Trước hết là su phat triển của phân công lao động xã hội. Đây là cơ sở hình thành các quan hệ thương mại như đã phân tích ở trên. Phân công lao động xã hội càng phát triển thì càng làm cho trình độ chuyên môn hoá trở nên sâu sắc, sự phụ thuộc vào nhau ngày càng nhiều. Quan hệ giao dịch giữa các doanh nghiệp không ngừng tăng lên.
Phạm vị phân công Trường Đại học Kinh tế Quốc dân _ Chương l/: Những vốn để cơ bản của giao dịch kinh doanh lao động ngày càng lan rộng ra, càng mở rộng thêm những quan hệ giao dịch thương mại của doanh nghiệp. Nhân tố thứ hơi là sự phát triển về quy mô, tốc độ của sản xuất. Đây là một xu hướng tất yếu của nền kinh tế quốc dân. Quy mô của sản xuất, tốc độ phát triển của sẵn xuất càng cao kéo theo sự tiêu dùng các yếu tố đầu vào và tiêu thụ các sản phẩm đầu ra đời hỏi ngày càng cao về trình độ, chất lượng và hiệu quả.
Quy mô của sản xuất xã hội tăng lên và số lượng các doanh nghiệp nhiều hơn sẽ làm phức tạp quá trình này. Nhiều ngành mới, vùng mới ra đời sẽ mở rộng quan hệ giao dịch cả về chiểu rộng và chiều sâu. Sự phát triển sản xuất sẽ kéo theo việc tăng các đầu mối giao dịch. Tính phức tạp gia tăng làm cho các doanh nghiệp đứng trước sự lựa chọn không đơn giân và độ rủi ro cao.
Nhân tố thứ ba làm phát triển các giao dịch là tiến bộ của khoa học kỹ thuật và công nghệ. Cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường đã đặt các doanh nghiệp đứng trước nguy cơ tụt hậu, phá sản. Để đứng vững và chiến thắng trong cạnh tranh các doanh nghiệp phải không ngừng đổi mới mẫu mã sản phẩm, áp dụng công nghệ và khoa học tiến bộ. Những yếu tố đó làm cho lực lượng sản xuất phát triển.
Khi đó nó sẽ làm cho kinh tế, xã hội và toàn bộ nền kinh tế quốc dân thay đổi. Khoa học và công nghệ tiến bộ tạo ra bước nhảy vọt của nền kinh tế làm cho "bức tranh da báo" của nền kinh tế quốc đân không ngừng thay đổi. Khoa học kỹ thuật còn làm thay đổi như cầu cả về lượng và chất; Quan niệm và tập quán; Tốc độ và cách thức tiêu dùng. Sự tiến bộ của khoa học và công nghệ đã làm thay đối về chất các giao dịch thương mại.
Nó = Trường Đại học:Kinh tế Quốc:dôn Š_'GIÁO TRÌNH GIÁO DỊCH VÀ ĐÂM PHÁN KỈNH DOANH cho phép thực hiện các giao dịch nhanh chóng, tiện lợi và hiệu quả. Khi có hệ thống viên thông, nó đã mở rộng đối tượng và phạm vi giao dịch mà với phương tiện cũ không thể thực hiện được. Trong lĩnh vực giao dịch nói chung và giao dịch thương mại nói riêng đã hình thành cả công nghệ giao địch hiện đại có sự hỗ trợ đắc lực của hệ thống vi tính. Một nhân tố nữa làm cho giao dịch phát triển là sự gia tăng của hệ thống trung gian bán buôn hàng hoá và địch vụ.
Những trung tâm tư vấn thương mại và đầu tử, văn phòng giao dịch, cửa hàng giới thiệu và các văn phòng đại diện. làm tăng khả năng thông tin, đầu mối, quan hệ và thâm nhập thị trường, tăng môi trường giao tiếp của người mua và người bán. Hoạt động của khâu trung gian này có tính hai mặt vừa làm tăng khả năng thông tin về thị trường, vừa làm tăng cơ hội lựa chọn. Mặt khác nó dễ làm rối loạn lưu thông, tạo rủi ro trong giao dịch.
Cuối cùng chính là sự gia tăng của khối lượng và danh mục sản phẩm sản xuất và tiêu dùng. Điều này sẽ kéo theo các quan hệ mua bán ngày càng nhộn nhịp hơn. Ban chat giao dịch kinh doanh Rất nhiều nhà nghiên cứu đã tìm hiểu về giao dịch và nêu ra nhiều định nghĩa khác nhau.