Luận văn thạc sĩ: IP Multicast và ứng dụng trong hệ thống mạng (ĐH Công Nghệ - ĐHQGHN)

Tìm hiểu về IP Multicast qua luận văn thạc sĩ: khái niệm, giao thức, và ứng dụng thực tế trong truyền tải dữ liệu hiệu quả. Khám phá ngay!

Trường đại học

Trường Đại học Công nghệ

Chuyên ngành

Công nghệ thông tin

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2009

89
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH SÁCH HÌNH VẼ

DANH SÁCH CÁC BẢNG

MỞ ĐẦU

0.1. Đối tƣợng và mục tiêu luận văn

0.2. Hƣớng tiếp cận

0.3. Kết cấu của luận văn

1. CHƢƠNG 1: CƠ BẢN VỀ IP MULTICAST

1.1. Mở đầu

1.2. Các thành phần tham gia vào truyền thông multicast

1.3. Địa chỉ multicast

1.4. Cây phân phối multicast

1.5. Chuyển tiếp multicast

1.6. Đƣờng trục multicast

1.7. Giao thức quản lý nhóm Internet

2. ĐỊNH TUYẾN MULTICAST

2.1. Giao thức định tuyến multicast véctơ khoảng cách

2.2. Giao thức PIM Dense Mode

2.3. PIM Sparse Mode

2.4. Giao thức Multicast Open Shortest Path First

3. SỬ DỤNG ACCESS GRID XÂY DỰNG

3.1. HỆ THỐNG HỘI NGHỊ TRUYỀN HÌNH DỰA TRÊN IP MULTICAST

3.2. Giao thức RTP

3.3. Đồng bộ luồng hình ảnh và âm thanh

3.4. Sử dụng Access Grid xây dựng một hội nghị truyền hình

HƢỚNG PHÁT TRIỂN CỦA ĐỀ TÀI

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. IP Multicast Tổng Quan Lợi Ích Cách Hoạt Động Hiệu Quả 55 ký tự

Ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ của Internet và các ứng dụng trực tuyến, nhu cầu truyền tải thông tin đồng thời đến nhiều người dùng ngày càng tăng cao. Các phương pháp truyền dữ liệu truyền thống như Unicast (điểm-điểm) và Broadcast (điểm-tất cả) bộc lộ nhiều hạn chế về hiệu quả và băng thông. IP Multicast ra đời như một giải pháp tối ưu, cho phép truyền dữ liệu từ một nguồn đến một nhóm người nhận được chỉ định, giúp tiết kiệm băng thông và cải thiện tốc độ truyền tải. Khác với Unicast, nơi dữ liệu được sao chép và gửi riêng lẻ đến từng người nhận, Multicast chỉ gửi một bản sao duy nhất và các router trên đường đi sẽ sao chép và chuyển tiếp bản sao này đến các nhánh cần thiết của mạng. So với Broadcast, Multicast giới hạn phạm vi truyền tải trong nhóm người nhận, tránh lãng phí tài nguyên cho những người không quan tâm. Điều này đặc biệt quan trọng đối với các ứng dụng như truyền hình trực tuyến (Streaming), video conferencing, phân phối dữ liệu tài chính, và hệ thống đào tạo trực tuyến, nơi mà một lượng lớn dữ liệu cần được phân phối đến nhiều người dùng đồng thời một cách hiệu quả. Multicast sử dụng địa chỉ nhóm để xác định nhóm người nhận, cho phép các máy tính dễ dàng tham gia hoặc rời khỏi nhóm. Các giao thức định tuyến Multicast đảm bảo rằng dữ liệu được gửi một cách hiệu quả trên mạng. Để có đƣợc Multicast trên Internet hay các mạng Intranet, cách đầu tiên là kết nối các ốc đảo mạng hỗ trợ Multicast với các đƣờng hầm IP Multicast. TS. Ngô Khánh Vân đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc "nghiên cứu các khái niệm, tìm hiểu các giao thức phổ biến của Multicast từ đó chỉ ra đƣợc các ƣu điểm, nhƣợc điểm cũng nhƣ khả năng áp dụng của IP Multicast vào các ứng dụng." Theo tài liệu gốc "IP MULTICAST VÀ ỨNG DỤNG LUẬN VĂN THẠC SĨ" của Trương Công Ái, Multicast là một công nghệ tƣơng đối mới cho phép các khách hàng đƣợc hƣởng lợi từ các ứng dụng thời gian thực mà đáng ra phải yêu cầu một lƣợng băng thông cực lớn.

1.1. So Sánh Ưu Điểm của Multicast so với Unicast Broadcast

Multicast khắc phục những hạn chế của UnicastBroadcast bằng cách cung cấp một giải pháp truyền dữ liệu hiệu quả và có mục tiêu. Unicast yêu cầu gửi nhiều bản sao của cùng một dữ liệu, gây lãng phí băng thông. Broadcast thì lại gửi dữ liệu đến tất cả các thiết bị trong mạng, kể cả những thiết bị không cần. Multicast chỉ gửi một bản sao duy nhất đến một nhóm người nhận cụ thể, giúp tiết kiệm băng thông và giảm tải cho mạng. Một so sánh cụ thể có thể thấy trong ứng dụng video conferencing. Trong khi Unicast cần thiết lập nhiều kết nối riêng lẻ đến từng người tham gia, Multicast chỉ cần một kết nối duy nhất, giúp giảm thiểu độ trễ và cải thiện trải nghiệm người dùng. Multicast cung cấp cho các ngƣời sử dụng liên quan đến Internet (các ngƣời sử dụng đầu cuối, nhà vận hành mạng, ISP và các công ty liên quan khác) giải pháp khả thi kinh tế và kỹ thuật cho vấn đề truyển tải khối lƣợng thông tin lớn đến các nhóm ngƣời dùng đƣợc lựa chọn.

1.2. Các Ứng Dụng Thực Tế Hưởng Lợi từ Công Nghệ Multicast

Nhiều ứng dụng hiện đại đang tận dụng lợi thế của Multicast. Truyền hình trực tuyến (Streaming) là một ví dụ điển hình, nơi Multicast cho phép truyền tải video đến hàng ngàn người xem đồng thời mà không gây quá tải cho mạng. Video conferencing sử dụng Multicast để phân phối luồng video và âm thanh giữa những người tham gia. Phân phối dữ liệu tài chính yêu cầu truyền tải thông tin thị trường đến nhiều máy trạm giao dịch một cách nhanh chóng và hiệu quả. Hệ thống đào tạo trực tuyến có thể sử dụng Multicast để truyền tải bài giảng và tài liệu học tập đến nhiều sinh viên đồng thời. Theo PGS.TS Nguyễn Văn Tam, công nghệ Multicast giúp tiết kiệm băng thông và cải thiện tốc độ truyền dữ liệu, đồng thời mở ra nhiều cơ hội cho các ứng dụng mới. Theo tài liệu gốc "IP MULTICAST VÀ ỨNG DỤNG LUẬN VĂN THẠC SĨ" các ứng dụng thời gian thực bao gồm: truyền hình trực tiếp, đài phát thanh, hội nghị truyền hình, các ứng dụng không phải thời gian thực nhƣ truyền file, dữ liệu, video theo yêu cầu … Truyền tải Multicast đƣa lại nhiều ƣu điểm so với Unicast truyền thống.

II. Địa Chỉ IP Multicast Phân Loại Cách Ánh Xạ Quản Lý 58 ký tự

Địa chỉ IP Multicast đóng vai trò then chốt trong việc xác định nhóm người nhận dữ liệu. Các router sử dụng địa chỉ này để phân biệt dữ liệu Multicast với UnicastBroadcast. Địa chỉ Multicast thuộc lớp D, nằm trong khoảng từ 224.0.0.0 đến 239.255.255.255. Để các thiết bị mạng có thể nhanh chóng lọc ra các địa chỉ Multicast, bốn bit bên trái của địa chỉ này luôn có giá trị 1110. Việc ánh xạ địa chỉ IP Multicast sang địa chỉ MAC cũng là một yếu tố quan trọng. Do không có cơ chế tương đương với giao thức phân giải địa chỉ nhƣ trong truyền thông Unicast, một dạng giá trị đặc biệt dành riêng cho địa chỉ MAC của Multicast sẽ đƣợc dùng. Các địa chỉ này bắt đầu bằng 01005E, phần 28 bit sau của địa chỉ IP Multicast sẽ đƣợc ánh xạ vào 23 bit thấp của địa chỉ MAC bằng một giải thuật đơn giản. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng có thể có nhiều địa chỉ IP Multicast khác nhau ánh xạ vào cùng một địa chỉ MAC, điều này đòi hỏi các host phải kiểm tra địa chỉ IP bên trong mỗi frame để xác định nhóm Multicast đích thực. Các router phải có phƣơng thức để phân biệt dữ liệu dạng Multicast với dạng Unicast hay Broadcast. Điều này thực hiện thông qua việc gán địa chỉ IP, bằng cách dùng địa chỉ lớp D từ 224.0.0.0 đến 239.255.255.255 cho Multicast các thiết bị mạng có thể nhanh chóng lọc ra các địa chỉ Multicast bằng cách đọc 4 bit bên trái của một địa chỉ.

2.1. Phân Loại Các Khoảng Địa Chỉ Multicast Quan Trọng Cần Biết

Có một số khoảng địa chỉ Multicast được dành riêng cho các mục đích cụ thể. Địa chỉ link-local (224.0.0.0 - 224.0.0.255) được sử dụng bởi các giao thức định tuyến và không được router chuyển tiếp. Địa chỉ dành cho quản trị (239.0.0.0 - 239.255.255.255) được sử dụng trong các miền Multicast khác nhau và có thể được sử dụng lại nhiều lần. Địa chỉ toàn cục (224.0.1.0 - 238.255.255.255) được sử dụng trên Internet và phải là duy nhất. Theo tài liệu gốc "IP MULTICAST VÀ ỨNG DỤNG LUẬN VĂN THẠC SĨ" một số không gian địa chỉ đƣợc dành riêng của Multicast: Toàn bộ không gian địa chỉ Multicast: 224.0.0.0/4. Địa chỉ link-local: 224.0.0.0/24 đƣợc dùng bởi các giao thức định tuyến. Router sẽ không chuyển các gói tin có địa chỉ này. Các địa chỉ bao gồm địa chỉ tất cả các host 224.0.0.1, tất cả các router 224.0.0.2, tất cả các OSPF router 224.0.0.5 … đây là địa chỉ các nhóm cố định vì các địa chỉ này đƣợc xác định trƣớc.

2.2. Giải Thích Chi Tiết Cơ Chế Ánh Xạ Địa Chỉ IP sang Địa Chỉ MAC

Cơ chế ánh xạ địa chỉ IP Multicast sang địa chỉ MAC là cần thiết để các thiết bị Ethernet có thể nhận biết và xử lý các gói tin Multicast. Chỉ có 23 bit cuối của địa chỉ IP được sao chép sang địa chỉ MAC, điều này dẫn đến việc có thể có nhiều địa chỉ IP khác nhau ánh xạ vào cùng một địa chỉ MAC. Sự nhập nhằng này dẫn đến một vấn đề nhỏ khi host Multicast nhận một Ethernet frame của địa chỉ Multicast. Một địa chỉ MAC có thể tƣơng ứng với 32 địa chỉ IP Multicast khác nhau. Vì vậy, khi một host nhận dữ liệu nó kiểm tra tất cả các frame có MAC mà nó quan tâm. Sau đó host này phải kiểm tra phần địa chỉ IP bên trong mỗi frame để nhận ra phần địa chỉ của từng nhóm Multicast.

III. Giao Thức IGMP Cách Quản Lý Nhóm Tham Gia Multicast 56 ký tự

Để nhận dữ liệu Multicast, các máy nhận cần tham gia vào một nhóm Multicast thông qua giao thức quản lý nhóm Internet (IGMP). IGMP cho phép các host thông báo cho router gần nhất về việc họ muốn nhận dữ liệu từ một nhóm Multicast cụ thể. Có nhiều phiên bản IGMP, bao gồm IGMPv1, IGMPv2, và IGMPv3, mỗi phiên bản cung cấp các tính năng và cải tiến khác nhau. IGMPv3 hỗ trợ tính năng lọc nguồn, cho phép các host chỉ nhận dữ liệu từ các nguồn cụ thể. Các router thƣờng dùng IGMP để duy trì thông tin cho từng giao diện để biết những nhóm Multicast nào router cần phải truyền dữ liệu và những host nào muốn nhận. Các thông điệp IGMP đƣợc đóng gói trong IP datagram với trƣờng protocol number bằng 2, trong đó trƣờng TTL có giá trị bằng 1. Các gói IGMP chỉ đƣợc truyền trong mạng LAN và không đƣợc tiếp tục chuyển sang LAN khác do giá trị TTL của nó.

3.1. So Sánh Các Phiên Bản IGMPv1 IGMPv2 IGMPv3 Tính Năng Chính

IGMPv1 là phiên bản cơ bản, chỉ hỗ trợ việc tham gia vào một nhóm Multicast. IGMPv2 cải tiến IGMPv1 bằng cách thêm vào khả năng rời khỏi nhóm và cơ chế chọn router truy vấn. IGMPv3 là phiên bản mới nhất, cung cấp tính năng lọc nguồn, cho phép các host chỉ định các nguồn dữ liệu mà họ muốn nhận. Với IGMPv3 có thể có nhiều nguồn cho một dòng dữ liệu Multicast vì thế các host có thể gia nhập nhóm và nhận dữ liệu từ các nguồn gần nhất. IGMPv3 còn cải tiến thông điệp Host Membership Query và thêm phiên bản mới của Host Membership Report.

3.2. Chi Tiết Các Loại Thông Điệp IGMP và Chức Năng Tương Ứng

IGMP sử dụng nhiều loại thông điệp để quản lý nhóm Multicast. Host Membership Report được sử dụng để tham gia vào một nhóm. Host Membership Query được sử dụng bởi router để kiểm tra xem có host nào còn quan tâm đến việc nhận dữ liệu từ một nhóm hay không. Leave Group Message được sử dụng để rời khỏi một nhóm (IGMPv2IGMPv3). IGMPv3 Host Membership Query có cùng giá trị kiểu và có cùng định dạng với IGMPv2 Host Membership Query ngoài trừ nó thêm một số trƣờng ở sau trƣờng địa chỉ nhóm. Các trƣờng này cung cấp các tham số truy vấn cho router và chỉ rõ các nguồn đƣợc chấp nhận và không đƣợc chấp nhận ứng với mỗi nhóm Multicast.

IV. Định Tuyến Multicast Giải Pháp Hiệu Quả cho Truyền Dữ Liệu 58 ký tự

Định tuyến Multicast là quá trình xác định đường đi tối ưu cho dữ liệu từ nguồn đến nhóm người nhận. Các giao thức định tuyến Multicast sử dụng các thuật toán khác nhau để xây dựng cây phân phối Multicast, đảm bảo rằng dữ liệu được gửi đến tất cả các thành viên của nhóm một cách hiệu quả. Có nhiều loại giao thức định tuyến Multicast, bao gồm Distance Vector Multicast Routing Protocol (DVMRP), Protocol Independent Multicast (PIM), và Multicast Open Shortest Path First (MOSPF). Các giao thức định tuyến Multicast đƣợc chia làm ba loại chính gồm: giao thức hoạt động theo mô hình tập trung (dense mode) nhƣ DVMRPPIM-DM, các giao thức hoạt động theo mô hình phân tán (sparse mode) nhƣ PIM-SM và giao thức hoạt động theo mô hình trạng thái liên kết (link-state) nhƣ MOSPF.

4.1. So Sánh DVMRP PIM Dense Sparse Mode và MOSPF Ưu Nhược Điểm

DVMRP là một giao thức dense mode, sử dụng cơ chế quảng bá và loại bỏ để xây dựng cây phân phối. PIM có thể hoạt động ở cả dense mode và sparse mode, tùy thuộc vào cấu hình. PIM-DM cũng sử dụng cơ chế quảng bá và loại bỏ, trong khi PIM-SM sử dụng cơ chế tham gia tường minh. MOSPF là một giao thức link-state, sử dụng thông tin về trạng thái liên kết để xây dựng cây phân phối. Với cơ chế này các giao thức dense mode phù hợp với các mạng máy tính nhỏ, trong đó lƣu lƣợng Multicast đƣợc truyền tới hầu hết các máy trên mạng. Các giao thức sparse mode hoạt động theo cách ngƣợc lại, các router sẽ không gửi dữ liệu lên mạng trừ khi nó nhận đƣợc yêu cầu gửi dữ liệu từ các máy nhận. Điều này làm giảm dữ liệu dƣ thừa truyền trên mạng, giúp cho các giao thức sparse mode phù hợp với các mạng lớn, với số lƣợng các máy tham gia nhận dữ liệu nhiều nhƣng nằm rải rác trên các mạng con.

4.2. Giải Thích Nguyên Lý Hoạt Động Của Reverse Path Forwarding RPF

Reverse Path Forwarding (RPF) là một cơ chế quan trọng trong định tuyến Multicast. Khi một gói tin Multicast đến một router, router sẽ kiểm tra xem gói tin có đến từ giao diện có đường đi ngắn nhất trở lại nguồn hay không. Nếu kiểm tra RPF thành công, gói tin được chuyển tiếp; nếu không, gói tin bị loại bỏ. Cách thức để router xác định giao diện là RPF đối với một gói tin phụ thuộc vào giao thức định tuyến đƣợc sử dụng.

V. Multicast VPN Giải Pháp Truyền Dữ Liệu An Toàn Bảo Mật 55 ký tự

Multicast VPN (MVPN) kết hợp công nghệ Multicast với VPN để cung cấp giải pháp truyền dữ liệu an toàn và bảo mật cho các ứng dụng yêu cầu Multicast trên mạng VPN. MVPN cho phép các tổ chức xây dựng mạng Multicast riêng tư, bảo vệ dữ liệu khỏi truy cập trái phép và đảm bảo chất lượng dịch vụ (QoS).

5.1. Kiến Trúc và Các Thành Phần Cơ Bản Trong Mạng Multicast VPN

Mạng Multicast VPN bao gồm các thành phần như Customer Edge (CE) routers, Provider Edge (PE) routers, và backbone network. CE routers kết nối mạng của khách hàng với mạng của nhà cung cấp dịch vụ. PE routers thực hiện các chức năng định tuyến Multicast và bảo mật VPN. Backbone network là mạng lõi của nhà cung cấp dịch vụ, kết nối các PE routers với nhau.

5.2. Cơ Chế Bảo Mật Dữ Liệu và Đảm Bảo QoS Trong Multicast VPN

Bảo mật dữ liệu trong Multicast VPN được đảm bảo thông qua các cơ chế mã hóa và xác thực. QoS được đảm bảo thông qua các cơ chế quản lý băng thông và ưu tiên luồng dữ liệu. Các gói tin trùng có thể thỉnh thoảng đƣợc tạo ra khi các topo mạng Multicast thay đổi. Trong tƣơng lai việc triển khai IPv6 sẽ đem lại Multicast có sẵn cho ngƣời sử dụng mạng. Phần mềm định tuyến tin cậy hơn với các giao thức mới sẽ tận dụng đƣợc hạ tầng mạng. Với Multicast có sẵn, các vấn đề định tuyến sẽ đƣợc giải quyết dễ dàng hơn và băng thông sẽ đƣợc tiết kiệm hơn.

VI. Ứng Dụng Access Grid Xây Dựng Hội Nghị Truyền Hình 52 ký tự

Access Grid là một công cụ phần mềm hỗ trợ xây dựng các ứng dụng hội nghị truyền hình dựa trên IP Multicast. Access Grid cho phép nhiều người tham gia từ các địa điểm khác nhau có thể tham gia vào một cuộc hội nghị truyền hình chất lượng cao, chia sẻ video, âm thanh và dữ liệu. MRouter nguồn thực hiện đóng gói và chuyển tiếp dữ liệu. Việc đóng gói theo cơ chế đƣờng hầm thực hiện bổ sung thêm phần tiêu đề IP mới với địa chỉ đích là địa chỉ IP Unicast của MRouter ở đầu bên kia của đƣờng hầm và địa chỉ nguồn là địa chỉ IP Unicast của MRouter đang gửi gói tin đó.

6.1. Các Thành Phần Chính và Chức Năng Của Phần Mềm Access Grid

Access Grid bao gồm các thành phần như Access Grid client, venue server, và media tools. Access Grid client cho phép người dùng tham gia vào các cuộc hội nghị truyền hình. Venue server quản lý các địa điểm hội nghị và điều phối luồng dữ liệu. Media tools cung cấp các chức năng chia sẻ video, âm thanh và dữ liệu.

6.2. Quy Trình Xây Dựng và Triển Khai Hệ Thống Hội Nghị Truyền Hình

Để xây dựng một hệ thống hội nghị truyền hình với Access Grid, cần cài đặt và cấu hình Access Grid client trên các máy tính của người tham gia. Cần thiết lập venue server để quản lý địa điểm hội nghị. Các media tools cần được tích hợp vào hệ thống để hỗ trợ chia sẻ video, âm thanh và dữ liệu.

24/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Mở đầu IP multicast là một nhóm các công nghệ và tiêu chuẩn cho phép việc truyền tải đa điểm – đa điểm nhƣ hội nghị, hay truyền tài điểm – đa điểm nhƣ việc quảng bá âm thanh, video trên Internet. Việc ứng dụng công nghệ này ngày càng phát triển do nhu cầu ngày càng cao đối với các ứng dụng đa phƣơng tiện và sự cải tiến công nghệ IP multicast. Multicast là thuật ngữ kỹ thuật, có nghĩa một gói tin có thể đƣợc gửi đến nhiều nơi trong cùng thời điểm. Cách thức thông thƣờng trong việc truyền thông tin trên Internet là sử dụng các giao thức unicast, các giao thức này gửi các gói tin đến mỗi điểm thu tại một thời điểm.

Trên mạng multicast, một gói tin có thể đƣợc gửi từ một máy tính đến một vài máy tính khác, thay vì gửi gói tin đó lần lƣợt đến từng máy tính. Do 5, 10 hay 100 máy có thể nhận đƣợc cùng gói tin nên băng thông đƣợc tiết kiệm. Khi sử dụng multicast để gửi đi gói tin thì không cần thiết phải biết địa chỉ của những ngƣời cần nhận luồng tin multicast đó: dữ liệu đƣợc quảng bá theo một phƣơng thức mà những ngƣời quan tâm đến nó có thể nhận đƣợc.1: Truyền thông unicast và multicast Các mạng hỗ trợ multicast cung cấp nhiều dịch vụ và các ứng dụng cho ngƣời sử dụng đầu cuối. Nhiều ứng dụng hỗ trợ multicast là các ứng dụng đa phƣơng tiện, tuy nhiên còn có nhiều loại ứng dụng khác nhau sử dụng công nghệ TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 4 IP multicast cho các mục đích không phải đa phƣơng tiện.

Các ứng dụng thời gian thực bao gồm: truyền hình trực tiếp, đài phát thanh, hội nghị truyền hình, các ứng dụng không phải thời gian thực nhƣ truyền file, dữ liệu, video theo yêu cầu … Truyền tải multicast đƣa lại nhiều ƣu điểm so với unicast truyền thống. Băng thông của mạng đƣợc tận dụng hiệu quả hơn do nhiều luồng dữ liệu đƣợc thay thế bởi một luồng dữ liệu multicast. Công nghệ này đem lại chất lƣợng tối ƣu do cần ít bản sao dữ liệu để chuyển đi và xử lý tại các nút mạng. Để có thể có đƣợc các ƣu điểm của IP multicast, thì khả năng định tuyến multicast phải đƣợc hỗ trợ tại các nút mạng.

Tùy thuộc vào chính sách sử dụng và nhu cầu của ngƣời sử dụng, thì các vấn đề liền quan đến định tuyến, độ tin cậy, đánh địa chỉ mạng và các giao thức truyền tải đa phƣơng tiện có tầm quan trọng đối với nhà vận hành mạng. Multicast không chỉ đem lại lợi ích cho ngƣời sử dụng đầu cuối. Hầu hết các ứng dụng multicast là dựa trên UDP, việc sử dụng giao thức này có thể dẫn đến các ảnh hƣởng phụ không mong muốn (các gói tin có thể bị hủy) so với các ứng dụng unicast tƣơng tự dựa trên TCP. Tuy nhiên, việc thiếu kiểm soát nghẽn có thể dẫn đến việc suy giảm chất lƣợng mạng tổng thể.

Các gói tin trùng có thể thỉnh thoảng đƣợc tạo ra khi các topo mạng multicast thay đổi. Trong tƣơng lai việc triển khai IPv6 sẽ đem lại multicast có sẵn cho ngƣời sử dụng mạng. Phần mềm định tuyến tin cậy hơn với các giao thức mới sẽ tận dụng đƣợc hạ tầng mạng. Với multicast có sẵn, các vấn đề định tuyến sẽ đƣợc giải quyết dễ dàng hơn và băng thông sẽ đƣợc tiết kiệm hơn.

Multicast là một công nghệ tƣơng đối mới cho phép các khách hàng đƣợc hƣởng lợi từ các ứng dụng thời gian thực mà đáng ra phải yêu cầu một lƣợng băng thông cực lớn. Công nghệ này cho phép nhiều loại công ty đƣa các sản phẩm của họ đến các nhóm ngƣời với chi phí thấp so với unicast. Multicast giảm lƣu lƣợng mạng và tiết kiệm băng thông cho phép ngƣời dùng khai thác khả năng sử dụng cực đại có thể của Internet. Multicast cung cấp cho các ngƣời sử dụng liên quan đến Internet (các ngƣời sử dụng đầu cuối, nhà vận hành mạng, ISP và TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 các công ty liên quan khác) giải pháp khả thi kinh tế và kỹ thuật cho vấn đề truyển tải khối lƣợng thông tin lớn đến các nhóm ngƣời dùng đƣợc lựa chọn.

Để có đƣợc multicast trên Internet hay các mạng Intranet, cách đầu tiên là kết nối các ốc đảo mạng hỗ trợ multicast với các đƣờng hầm IP multicast. Do các đƣờng hầm này không khả phân cấp và không đƣa lại các ƣu điểm kế thừa của multicast, bƣớc kế tiếp là thay thế hạ tầng đƣờng hầm với hạ tầng định tuyến multicast thực sự. Công nghệ multicast hiện tại đƣa ra các thách thức khác nhau cho việc định tuyến và đánh địa chỉ, hiện nay thử thách lớn nhất là để thiết lập hạ tầng toàn cầu có tính tin cậy và có tính khả phân cấp tƣơng tự nhƣ hạ tầng mạng Internet unicast ngày nay. Trong khi giao thức mạng IP tự bản thân nó cung cấp các cơ chế kế thừa đối với IP multicast, các giao thức lớp cao hơn không hỗ trợ nó.

Mặc dù các giao thức không tin cậy nhƣ UDP, RTP có thể sử dụng trên nóc của IP multicast, TCP và các giao thức truyền tải tin cậy hơn trong các môi trƣờng unicast không hộ trợ multicast. Do vậy các giao thức truyền tải multicast phải đƣợc phát triển và vì thế không có giao thức truyền tải mục đích chung cho mọi trƣờng hợp, tuy nhiên lại xuất hiện các giao thức khả cấu hình cao và các giao thức đƣợc chuyên biệt cao cho các mục đích truyền tải tin cậy đặc biệt trong môi trƣờng IP multicast.2 Các thành phần tham gia vào truyền thông multicast Để tham gia vào quá trình trao đổi dữ liệu các máy tính và router cần hỗ trợ giao thức multicast, khi đó các máy có thể gửi hay nhận lƣu lƣợng multicast. Máy nguồn gửi dữ liệu multicast tới một địa chỉ nhóm, đây là một địa chỉ lớp D. Các máy trạm muốn nhận các gói tin multicast sẽ liên hệ với router cục bộ để đăng ký tham gia nhóm và nhận dữ liệu.

Các router sẽ sử dụng một giao thức định tuyến multicast để xác định các mạng con có các thành viên của nhóm và chuyển dữ liệu multicast tới các máy nhận. Nếu mạng con không có thành viên của nhóm, router sẽ không chuyển dữ liệu tới mạng đó. Ta sẽ tìm hiểu các thành thành phần tham gia vào truyền thông multicast và hoạt động của chúng trong mạng qua minh hoạ trên hình 1.2: TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2: Các thành phần tham gia vào truyền thông multicast Trong mô phỏng trên hình 1.2 các hoạt động diễn ra nhƣ sau: Host A trong Subnet 1 là một nguồn multicast và gửi dữ liệu multicast tới địa chỉ nhóm. Host B trong Subnet 1 gửi yêu cầu tham gia nhóm tới router cục bộ của nó.

Bởi vì Host B đã gia nhập vào nhóm nên giao diện mạng của nó sẽ lắng nghe các gói dữ liệu gửi tới địa chỉ nhóm. Các máy tính còn lại trong Subnet 1 không tham gia nhóm nên chúng sẽ lọc bỏ các lƣu lƣợng gửi tới địa chỉ nhóm multicast. Router sẽ chuyển dữ liệu multicast tới tất cả các mạng con có thành viên của nhóm. Trong trƣờng hợp này, router sẽ chuyển dữ liệu từ Subnet 1 tới Subnet 3.

Host C trong Subnet 3 đã tham gia vào nhóm do đó nó sẽ nhận dữ liệu multicast. Host D trong Subnet 3 gửi yêu cầu tới router để tham gia nhóm, sau khi tham gia nhóm giao diện mạng của nó sẽ lắng nghe và nhận các dữ liệu gửi tới địa chỉ nhóm. Các thành phần tham gia vào truyền thông multicast: TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 Host (bao gồm nguồn hoặc đích): là các là các máy tính tham gia kết nối vào mạng và hỗ trợ quá trình gửi và nhận dữ liệu multicast. Router: là các router hỗ trợ giao thức multicast, nó có khả năng xử lý các yêu cầu tham gia hay rời nhóm và có giao thức định tuyến multicast để xác định và chuyển dữ liệu tới các mạng con.

Địa chỉ multicast: là địa chỉ lớp D, nó chính là địa chỉ của nhóm multicast. Nhóm multicast: là một tập các thiết bị đầu cuối lắng nghe dữ liệu gửi tới một địa chỉ multicast. MBone: viết tắt của từ Internet multicast backbone là một phần của Internet hỗ trợ quá trình định tuyến và gửi dữ liệu multicast.3 Địa chỉ multicast Các router phải có phƣơng thức để phân biệt dữ liệu dạng multicast với dạng unicast hay broadcast. Điều này thực hiện thông qua việc gán địa chỉ IP, bằng cách dùng địa chỉ lớp D từ 224.255 cho multicast các thiết bị mạng có thể nhanh chóng lọc ra các địa chỉ multicast bằng cách đọc 4 bit bên trái của một địa chỉ.

Bốn bit này của một địa chỉ multicast luôn luôn bằng 1110, hình 1.3 thể hiện định dạng của một địa chỉ lớp D. 28 bits Class D 1 1 1 0 Multicast Group ID Hình 1.3: Định dạng của địa chỉ IP lớp D Làm thế nào để một router kết hợp một địa chỉ multicast của IP với một địa chỉ MAC. Do không có cơ chế tƣơng đƣơng với giao thức phân giải địa chỉ nhƣ trong truyền thông unicast, một dạng giá trị đặc biệt dành riêng cho địa chỉ MAC của multicast sẽ đƣợc dùng. Các địa chỉ này bắt đầu bằng 01005E, phần 28 bit sau của địa chỉ IP multicast sẽ đƣợc ánh xạ vào 23 bit thấp của địa chỉ MAC bằng một giải thuật đơn giản.

TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 224 - 239 X Y Z IP Multicast 1110 Address 5 bit 28 bit Không sử dụng Ánh xạ sang địa chỉ MAC Multicast 000 000 0100 0000 00010 111 010 MAC Address 01 00 5E X Y Z Hình 1.4: Ánh xạ địa chỉ IP multicast sang địa chỉ MAC Hình 1.4 cho thấy cơ chế ánh xạ địa chỉ, chỉ có 23 bit cuối của địa chỉ là đƣợc chép từ địa chỉ IP sang địa chỉ MAC. Tuy nhiên chú ý rằng có 5 bit của địa chỉ IP không đƣợc chuyển sang địa chỉ MAC. Ánh xạ này làm nảy sinh một vấn đề là có thể có 32 địa chỉ multicast khác nhau có thể ánh xạ vào cùng một địa chỉ MAC. Sự nhập nhằng này dẫn đến một vấn đề nhỏ khi host multicast nhận một Ethernet frame của địa chỉ multicast.

Một địa chỉ MAC có thể tƣơng ứng với 32 địa chỉ IP multicast khác nhau. Vì vậy, khi một host nhận dữ liệu nó kiểm tra tất cả các frame có MAC mà nó quan tâm. Sau đó host này phải kiểm tra phần địa chỉ IP bên trong mỗi frame để nhận ra phần địa chỉ của từng nhóm multicast. Sau đây là một số không gian địa chỉ đƣợc dành riêng của multicast: Toàn bộ không gian địa chỉ multicast: 224.

Địa chỉ link-local: 224.255 đƣợc dùng bởi các giao thức định tuyến.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ