phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, đề án được chia làm 3 phần: Phần 1: Cơ sở xây dựng đề án Phần 2: Nội dung đề án Phần 3: Các đề xuất và kiến nghị 6 Phần 1: CƠ SỞ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN 1. Khái niệm huy động vốn tiền gửi của ngân hàng thương mại * Vốn tiền gửi Tiền gửi là tiền mà các doanh nghiệp và cá nhân gửi vào ngân hàng thương mại nhằm mục đích phục vụ các hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt, tiết kiệm và một số mục đích khác. * Huy động vốn tiền gửi Có một số quan điểm khác nhau về huy động vốn tiền gửi: Theo Peter S.Rose, Huy động vốn tiền gửi là hoạt động ngân hàng nhận tiền gửi từ các tổ chức, cá nhân thông qua các hình thức nhận tiền gửi giao dịch và tiền gửi phi giao dịch để đáp ứng các nhu cầu về vốn. Theo khoản 13, Điều 4, Luật các tổ chức tín dụng Việt Nam năm 2024 thì huy động vốn tiền gửi hay còn gọi là hoạt động nhận tiền gửi được định nghĩa như sau: Nhận tiền gửi là hoạt động nhận tiền của các tổ chức, cá nhân dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác nhau theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho người gửi tiền theo thõa thuận.
Tóm lại, Huy động tiền gửi là nghiệp vụ tiếp nhận nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi từ các tổ chức và cá nhân bằng nhiều hình thức khác nhau để hình thành nên nguồn vốn hoạt động của ngân hàng. Từ khái niệm trên có thể thấy rằng huy động vốn tiền gửi khác với tiền gửi. Nếu như tiền gửi là phạm trù phản ánh hoạt động gửi tiền của khách hàng tại ngân hàng thì huy động vốn tiền gửi là phạm trù phản ánh hoạt động của ngân hàng nhằm thu hút khách hàng gửi tiền vào ngân hàng. Các hình thức huy động vốn tiền gửi của NHTM a.
Phân loại theo kỳ hạn - Huy động tiền gửi không kỳ hạn là loại tiền gửi mà người gửi có thể rút ra bất cứ lúc nào và ngân hàng luôn có nghĩa vụ phải thỏa mãn các nhu cầu đó. Mục đích của các khoản tiền gửi này không phải để hưởng lãi suất mà chủ yếu dùng để 7 thanh toán. Với mục đích chủ yếu khi gửi tiền là để sử dụng các dịch vụ ngân hàng nên mức lãi suất mà ngân hàng trả cho người gửi tiền là rất thấp, thậm chí là không trả lãi. - Huy động tiền gửi có kỳ hạn Tiền gửi có kỳ hạn là loại tiền gửi của các tổ chức kinh tế, cá nhân gửi vào ngân hàng có sự thỏa thuận về thời gian rút tiền.
Đây là nguồn vốn có tính ổn định cao, ngân hàng có thể chủ động trong quá trình sử dụng, vì thế mức lãi suất mà ngân hàng trả cho người gửi tiền cũng cao hơn. Người gửi tiền ngoài mục đích sử dụng các dịch vụ ngân hàng còn vì mục đích sinh lợi. Do đó, sự thay đổi lãi suất sẽ có tác động rất nhanh và rõ nét đến hoạt động huy động nguồn vốn này của ngân hàng. - Huy động tiền gửi tiết kiệm, bao gồm các loại sau: + Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn là tiền gửi mà người gửi tiền có thể rút tiền theo yêu cầu mà không cần báo trước vào bất kỳ ngày làm việc nào của ngân hàng.
+ Huy động tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn. Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn là tiền gửi mà người gửi tiền chỉ có thể rút tiền sau một kỳ hạn gửi tiền nhất định theo thỏa thuận với ngân hàng. Các hình thức thường thấy là: Chứng chỉ tiền gửi, tiết kiệm nhà ở, tiết kiệm dự thưởng. * Phân loại theo đối tượng - Huy động tiền gửi của cá nhân: Tiền gửi của cá nhân là tiền gửi với mục đích an toàn, thanh toán và sinh lợi.
Tiền gửi của cá nhân bao gồm các hình thức tiền gửi và tiền gửi thanh toán. Đây là khu vực huy động đầy tiềm năng cho ngân hàng. Vì thế, để khai thác nguồn vốn này, ngân hàng cần chú trọng đa dạng hóa các hình thức huy động cũng như lãi suất hợp lý. - Huy động tiền gửi từ các tổ chức kinh tế và tổ chức xã hội: Đây là nguồn huy động được đánh giá là rất lớn, chiếm tỷ trọng cao trong tổng nguồn vốn.
Để tiết kiệm thời gian và chi phí trong thanh toán, các doanh nghiệp dù lớn hay nhỏ đều lập tài khoản tiền gửi trong ngân hàng. Các doanh nghiệp gửi tiền vào ngân hàng khi bán được hàng hóa và rút ra khi cần. Chu kỳ rút tiền của các doanh nghiệp và các tổ chức xã hội không giống nhau. Do vậy ngân hàng có trong tay một khoản tiền lớn có thể sử dụng một cách tương đối thuận lợi.
8 - Huy động tiền gửi từ các ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác: Trong quá trình hoạt động, các ngân hàng thường có các khoản tiền gửi lẫn nhau để thuận tiện trong giao dịch, thanh toán. Mục đích của những khoản tiền gửi này là để NHTM sử dụng các dịch vụ lẫn nhau, như: Thanh toán hộ, phát hành hộ chứng chỉ tiền gửi, giao dịch ngoại tệ, giúp mua bán chứng khoán, tư vấn đầu tư, cho vay hợp vốn, đồng tài trợ. Mặt khác, các ngân hàng đang có nguồn dự trữ vượt yêu cầu có thể cho các ngân hàng khác vay để hưởng lãi suất. * Phân loại theo loại tiền tệ - Huy động tiền gửi bằng nội tệ (VND) Ngoài việc phân biệt nguồn vốn huy động tiền gửi theo đối tượng, theo kỳ hạn thì việc xác định vốn tiền gửi theo đồng tiền Việt Nam đồng huy động cũng rất quan trọng.
Tiền gửi bằng nội tệ là nguồn tiền huy động chủ yếu nên các NHTM luôn chú trọng đa dạng các gói sản phẩm huy động. - Huy động tiền gửi bằng ngoại tệ Tiền gửi bằng ngoại tệ là khoản tiền gửi chiếm tỉ trọng không cao nhưng nó giúp ngân hàng duy trì mối quan hệ với các cá nhân, doanh nghiệp, TCKT có nhu cầu sử dụng ngoại tệ thường xuyên. Nên các NHTM vẫn chú trọng tới các gói sản phẩm huy động tiền gửi bằng đồng ngoại tệ. * Phân loại theo phương thức trả gốc và lãi - Huy động vốn tiền gửi trả lãi sau: Là hình thức tiết kiệm trả lãi khi đáo hạn.
Vào thời điểm đáo hạn nếu khách hàng không đến rút vốn và lãi được nhập vào gốc và tự động chuyển sang kỳ hạn mới tương ứng. - Huy động vốn tiền gửi trả lãi trước: Là hình thức tiết kiệm trả lãi ngay khi ngân hàng gửi tiền. Khi đến hạn khách hàng sẽ được lĩnh phần gốc đúng như số tiền ghi trên thẻ hoặc sổ tiết kiệm. - Huy động vốn tiền gửi trả lãi định kỳ: Là hình thức tiết kiệm trả lãi theo từng kỳ hạn (có thể định kỳ hàng tháng, hàng quý, 6 tháng 1 lần…) mà khách hàng và ngân hàng đã thỏa thuận.
Đến kỳ tính lãi, khách hàng có thể rút phần lãi của kỳ đã đăng ký vào bất kỳ ngày làm việc nào của ngân hàng. Nếu khách hàng không lĩnh lãi theo kỳ hạn đã đăng ký thì ngân hàng chỉ thực hiện sao kê tính lãi, hết kỳ tính lãi cuối cùng thì số lãi còn chưa lĩnh có thể được nhập vào gốc.” 9 * Phân loại theo phương thức nộp gốc - Huy động vốn tiền gửi một lần: Là loại hình tiết kiệm mà khách hàng chỉ gửi tiền vào ngân hàng một lần và từ thời điểm đó đến khi đáo hạn. Với hình thức này ngân hàng không tốn nhiều chi phí quản lý do số dư tài khoản của khách hàng không biến động, do đó mức lãi suất của loại này cao. - Huy động vốn tiền gửi gửi nhiều lần: Tiết kiệm gửi nhiều lần hay tiết kiệm gửi góp là hình thức tiết kiệm mà định kỳ đã đăng ký với ngân hàng, khách hàng gửi vào ngân hàng một số tiền, số tiền gửi từng lần có thể là cố định hoặc thay đổi theo khả năng của khách hàng.
Lãi suất của loại tiền này thấp hơn lãi suất tiết kiệm thông thường và ngoài việc phụ thuộc vào kỳ hạn gửi tiền thì lãi suất tiết kiệm gửi góp còn phụ thuộc vào khoảng cách giữa hai lần gửi, khoảng cách này càng nhỏ thì lãi suất càng cao. Nội dung huy động vốn tiền gửi của NHTM - Mở tài khoản thanh toán cho cá nhân: Tiền gửi thanh toán bao gồm tiền gửi thanh toán có hưởng lãi và tiền gửi thanh toán không hưởng lãi. Đây là nguồn vốn biến động nhiều nhất và khó dự báo về quy mô tiền gửi giao dịch. Lãi suất trả cho số dư tài khoản này thấp nhất nên chi phí huy động vốn rất thấp.
- Huy động từ tiền gửi có kỳ hạn của dân cư: Đây là loại tiền gửi có sự thỏa thuận giữa ngân hàng và khách hàng về thời gian gửi tiền và nó chính là nguồn tiền gửi trung gian giữa tiền gửi thanh toán và tiền gửi tiết kiệm. Tiền gửi có kỳ hạn thường có thời hạn dài và lãi suất cao vì vậy nó là nguồn tương đối ổn định. - Huy động từ tiền gửi tiết kiệm của dân cư: Tiền gửi tiết kiệm được lập ra để thu hút vốn của những người muốn dành riêng một khoản tiền cho nhưng mục tiêu hay cho một nhu cầu về tài chính được dự tính trong tương lai. Lãi suất áp dụng cho loại tiền gửi này cao hơn nhiều so với tiền gửi giao dịch và tiền gửi tiết kiệm được hưởng bảo hiểm theo quy định về bảo hiểm tiền gửi.
Tiền gửi tiết kiệm bao gồm hai loại là tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn và tiết kiệm có kỳ hạn. - Huy động từ việc phát hành các giấy tờ có giá khác: Đây là hình thức ngân hàng huy động vốn tiền tệ bằng việc phát hành chứng chỉ có giá trị bao gồm chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, trái phiểu. Chứng chỉ tiển gửi là phiếu nợ ngắn hạn với mệnh giá quy định, trái phiếu là loại phiếu nợ trung và dài hạn. Kỳ phiếu là loại giấy tờ có 10 giá ngắn hạn (trong 1 năm).
Nó có đặc điểm giống như trái phiếu nhưng có thời hạn ngắn hơn trái phiếu vì vậy nó được sử dụng cho mục đích huy động vốn ngắn hạn của ngân hàng. Các loại phiếu nợ này được các ngân hàng phát hành từng đợt tùy theo mục đích nhất định. Một số chỉ tiêu đánh giá kết quả huy động vốn tiền gửi của NHTM 1.