Chương 1 NHU CẦU VÀ NGUỒN HUY ĐỘNG VON CHO PHAT TRIEN ĐÀO TẠO NGHỀ TRONG TIẾN TRÌNH CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm đào tạo nghề Đào tạo trung học chuyên nghiệp và đào tạo nghề, gọi tắt là đào tạo chuyên nghiệp hay giáo dục kỹ thuật nghề nghiệp. Đào tạo nghề còn được gọi là dạy nghề.
Mục đích của đào tạo nghề (dạy nghề) là đào tạo người lao động có kiến thức kỹ năng nghề nghiệp ở các trình độ: lao động phổ thông, công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức ky luật, tác phong công nghiệp, có sức khoẻ nhằm tạo điều kiện cho người lao động có khả năng tìm việc làm, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Đối tượng của đào tạo nghề (dạy nghề): là nhằm đào tạo người lao động có kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp phổ thông, công nhân kỹ thuật và nhân viên nghiệp vụ. Mô hình hoạt động dạy nghề: - Đào tạo nghề ngắn hạn: Thời gian đào tạo dưới 1 năm, chủ yếu là đào tạo nghề cho người lao động có kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp phổ thông (phổ cập nghề). - Đào tạo nghề dài hạn: Thời gian đào tạo từ 1 đến 3 năm.
Đào tạo công nhân kỹ thuật và nhân viên nghiệp vụ. - Đào tạo nghề nhiều trình độ, liên thông giữa các trình độ đào tạo: tạo nên sự liên thông cho người học từ trình độ thấp đến trình độ cao mà không phải học lại từ đầu và có thể học sang ngành nghề khác tương đương. - Đào tạo nghề theo mô đun: Thực hiện liên thông giữa các trình độ đào tạo, giúp người học nghề có thể chủ động tham gia chương trình đào tạo phù hợp với điều kiện của mình, có thể chuyển đổi nghề nghiệp phù hợp với sự thay đổi công nghệ nhất là đối với doanh nghiệp đang có kế hoạch đầu tư chiều sâu; đáp ứng nhu cầu vừa làm việc vừa học tập, nhu cầu học tập suốt đời của người lao động. - Dạy nghề tại doanh nghiệp: Đáp ứng nhu cầu lao động kỹ thuật của doanh nghiệp.
Người học được tiếp cận ngay với công nghệ sản xuất tại doanh nghiệp. Doanh nghiệp trực tiếp thực hiện đào tạo và tổ chức đào tạo. - Dạy nghề lưu động: Những lớp dạy nghề lưu động với những chương trình đào tạo linh hoạt, thiết bị phù hợp cho lao động nông thôn, thanh niên dân tộc vùng sâu, vùng xa, những người có trình độ văn hoá thấp. Mạng lưới dạy nghề: bao gồm hệ thống các cơ sở dạy nghề từ trung ương đến địa phương.
- Trường dạy nghề: đào tạo nghề dài hạn (từ 1 đến 3 năm) cấp bằng nghề. Trường dạy nghề cũng đã tổ chức nhiều loại hình đào tạo nghề ngắn hạn. - Trung tâm dạy nghề: đào tạo nghề ngắn hạn (dưới 1 năm) và cấp chứng chỉ nghề. - Một số trường cao đẳng, trung học chuyên nghiệp có dạy nghề.
- Các cơ sở dạy nghề khác: gồm trung tâm dịch vụ giới thiệu việc làm; trung tâm giáo dục thường xuyên; trung tâm kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp và nhiều lớp dạy nghề ở các doanh nghiệp và các làng nghề. tham gia đào tạo nghề ngắn hạn. Quản lý các cơ sở dạy nghề gồm hai cấp quản lý sau: - Các bộ, ngành quản lý cơ sở dạy nghề gồm: Tổng cục Dạy nghề - Bộ Lao động Thương binh và Xã hội; Bộ Giáo dục và Đào tạo; Các Tổng công ty và cơ quan trung ương của các đoàn thể, tổ chức. " Địa phương quản lý cơ sở day nghề: gồm Sở Lao dong Thương binh va Xã hội; các sở ban chuyên ngành, doanh nghiệp; các quận, huyện.
Hình thức sở hữu của cơ sở dạy nghề: - Cơ sở dạy nghề công lập: được Nhà nước đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị và cấp kinh phí cho hoạt động đào tạo (với chỉ tiêu được cấp ngân sách, Nhà nước đảm bảo 60% kinh phí). - Cơ sở dạy nghề ngoài công lập hoạt động theo nguyên tắc: tự trang trải kinh phí hoạt động, Nhà nước không đầu tư và cũng chưa có chính sách ưu đãi, khuyến khích thoả đáng. - Cơ sở dạy nghề bán công: Nhà nước đầu tư ban đầu về nhà xưởng, đất đai, một phần thiết bị dạy nghề và tiền lương cho một số biên chế), kinh phí đào tạo do người học nghề tự đóng góp. Khái niệm vốn cho đào tạo nghề * Khái niệm vốn: Có thể nhận thấy những quan niệm về vốn, với tư cách là một phạm trù kinh tế qua nhiều công trình nghiên cứu của các nhà kinh tế học từ trước tới nay: Phái trọng thương coi vốn là tiền mang lại tiền lớn hơn bằng con đường thương mại - chủ yếu là ngoại thương, trọng nông quan tâm phân tích yếu tố vật chất cấu thành nên "tư ban" và cho rằng "vốn là những khoản tiền ứng trước được đầu tư vào nông nghiệp" để mang lại "sản phẩm rong” trong nông nghiệp.
Ri-Các-Đô cho rằng: vốn là "đất đai, thiên nhiên - lợi thế của đất đai và tự nhiên". Và đến cuối thế kỷ XIX, Các Mác đã phát hiện ra "giá trị thặng dư" - với phát hiện đó thì vốn đối với nhà tư bản là tiền tích luỹ để mang lại tiền lớn hơn thông qua sự bóc lột sức lao động của công nhân làm thuê. Ngoài ra, trong nhiều sách, giáo trình, công trình khoa hoc trong lĩnh vực kinh tế ở nước ta hiện nay, khái niệm về vốn đã được trình bày dưới nhiều góc độ: vốn cố định, vốn lưu động, vốn ngắn hạn, dài hạn. Tuy có nhiều quan niệm về vốn, dé cập dưới nhiều góc độ khác nhau, song khái quát những nét chung nhất, có thể thống nhất một khái niệm về vốn như sau: - "Phạm trù vốn phải được hiểu theo nghĩa rộng gồm toàn bộ các nguồn lực kinh tế khi được đưa vào chu chuyển.
Nó không chỉ bao gồm tiền vốn, các tài sản hiện vật như máy móc, vật tư, lao động, tài nguyên, đất đai. mà còn bao gồm giá trị của những tài sản vô hình như vị trí đất đai, các thành tựu khoa học và công nghệ, quyền phát minh sáng chế. - Vốn hiểu theo nghĩa trực tiếp là phần giá trị tài sản quốc gia được tích luỹ dưới dạng tiền và giá trị của tài sản hữu hình và vô hình nhằm mục đích sinh lợi, được chuyển đổi thông qua các hoạt động đầu tư thành những tư liệu sản xuất và các phương tiện sản xuất cần thiết khác để sử dụng vào quá trình đầu tư cho nền kinh tế" [23, tr. * Đầu tu cho đào tạo nghề là đâu tư phát triển.
- "Đầu tư phát triển là hoạt động nhằm tạo ra tài sản mới cho nền kinh tế, làm tăng tiềm lực sản xuất kinh doanh và mọi hoạt động xã hội khác, là điều kiện chủ yếu để tạo việc làm, nâng cao đời sống của mọi người dân trong xã hội. Đó là việc bỏ tiền ra để xây dựng, sửa chữa nhà cửa và các kết cấu hạ tầng, mua sắm trang thiết bị, bồi dưỡng đào tạo nguồn nhân lực, thực hiện các chi phí thường xuyên gắn liền với sự đổi mới công nghệ va sự hoạt động của các tài sản này nhằm duy tri và tăng cường tiém lực hoạt động của các cơ sở đang tồn tại và tạo tiềm lực mới cho xã hội” [17, tr. Với quan niệm trên, nguồn tài chính dành cho giáo dục - đào tạo bồi dưỡng nguồn nhân lực không còn đơn thuần là "phúc lợi xã hội", nó đã trở thành vốn đầu tư phát triển, bởi nó đã được sử dụng để mang lại lợi ích to lớn trong tương lai. Như vậy, đầu tư cho đào tạo nghề là đầu tư phát triển.
Khoản tiền dùng để phát triển đào tạo nghề gọi là vốn cho đào tạo nghề. * Đầu tư cho đào tạo nghề với phát triển kinh tế Lịch sử phát triển kinh tế của thế giới đã chứng minh để đạt được sự tăng trưởng kinh tế cao ổn định phải thông qua việc nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo. Trong bối cảnh toàn cầu hoá, khả năng hấp thụ tiến bộ về khoa học và công nghệ phụ thuộc chủ yếu vào đội ngũ lao động kỹ thuật, đội ngũ tri thức, nếu không có nguồn nhân lực tương xứng thì ngay cả những kỹ thuật hoàn thiện nhất cũng trở nên vô dụng. Thành công của các nước công nghiệp mới ở Châu Á đã chứng minh: Con đường duy nhất của thành công trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá là phải đầu tư phát triển nguồn nhân lực - trong đó đội ngũ công nhân kỹ thuật qua đào tạo nghề là một bộ phận quan trọng.
Nhân loại ngày nay đang trong nền kinh tế tri thức. Đó là nền kinh tế mà tri thức chiếm hàm lượng chủ yếu trong giá trị một sản phẩm. Suy cho cùng tri thức là hệ quả tất yếu của sự phát triển nguồn nhân lực. Do vậy các nước muốn phát triển kinh tế tri thức cần phải đầu tư cho phát triển con người, mà cốt lõi là đầu tư phát triển đào tạo, đặc biệt là đầu tư phát triển nhân tài.
Nhờ có sự đầu tư phát triển nguồn nhân lực mà nhiều nước chỉ trong một thời gian ngắn đã nhanh chóng trở thành nước công nghiệp. Các nước có nền kinh tế phát triển, sự đóng góp của tri thức đã ngày càng chiếm tỷ trọng cao trong GDP. Ví dụ Mỹ gần 50%, Anh 45,8%, Pháp 41,5%. Để phát triển trong tương lai các nước đã tập trung đầu tư rất lớn cho giáo dục đào tạo và rất chú trọng việc đào tạo những "công nhân trí thức” có khả năng sáng tạo, phát minh hoặc ứng dụng công nghệ mới xuất sắc: Mỹ chi khoảng 7% GDP/năm, Hà Lan 6,7% GDP, Pháp: 5,7% GDP, Nhật Bản 5,0% GDP.
Tóm lại, ngày nay nguồn tài chính dùng để phát triển đào tạo nghề: đào tạo - bỏi dưỡng đội ngũ công nhân kỹ thuật là nguồn vốn, bởi nó được dùng để mang lại lợi ích trong tương lai: mang lại sự tăng trưởng và phát triển kinh tế.