chương 1, tác giả đã trình bày khái quát những cơ sở lý luận chung về tự chủ tài chính tại các trường đại học công lập: khái niệm, đặc điểm, phân loại, nguyên tắc, mục đích, nội dung cơ chế tự chủ tài chính ở ĐVSNCL, đặc biệt đã chỉ ra được các nguồn tài chính và những nội dung chi của các trường ĐHCL. Cùng với đó tác giả đã đưa ra được vai trò sự cần thiết phải tăng cường cơ chế tự chủ tài chính tại các trường ĐHCL. Trong chương 2, tác giả đã nghiên cứu thực trạng thực hiện cơ chế tự chủ tài chính tại Học viện Chính sách và Phát triển giai đoạn 2021-202, xác định cơ cấu và quy mô nguồn thu và các khoản thu của Học viện trong giai đoạn này. Từ đó đưa ra những nhận định, đánh giá mức độ đảm bảo chi thường xuyên của Học viện.
Qua những phân tích các kết quả đạt được và chỉ ra những điểm mạnh, điểm yếu, những thuận lợi và khó khăn, những hạn chế và nguyên nhân trong việc thực hiện tự chủ tài chính của Học viện trong giai đoạn này. Từ đó có cái nhìn tổng quát về tình hình thực hiện cơ chế tự chủ của Học viện làm cơ sở cho việc đưa ra các giải pháp để khắc phục những hạn chế, tồn tại. Chương 3 sau đây sẽ tập trung vào việc đề xuất các giải pháp hoàn thiện cơ chế tự chủ ix tài chính tại Học viện Chính sách và Phát triển. Trong Chương 3, tác giả đã đưa ra định hướng và mục tiêu về tự chủ tài chính của Học viện và dự tính các phương án hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính tại Học viện giai đoạn 2022 -2023, tầm nhìn đến năm 2020, đồng thời đề xuất một số giải pháp và kiến nghị kiến nghị để đẩy mạnh cơ chế tự chủ tài chính tại Học viện Chính sách và Phát triển.
Như vậy, việc hoàn thiện việc thực hiện cơ chế tự chủ tài chính tại HVCSPT, là xu thế chung và tất yếu, gắn liền với các cơ hội và thách thức của toàn cầu hoá GDĐH. Tài chính là một nguồn lực rất quan trọng để thúc đẩy sự phát triển của giáo dục, trong đó có giáo dục đại học. Có nguồn lực tài chính các đơn vị giáo dục mới có thể phát triển các nguồn lực như con người, cơ sở vật chất, nghiên cứu khoa học. Nhằm tối ưu hoá công tác tự chủ tài chính, các cơ sở giáo dục Đại học công lập cần được trao quyền tự chủ đại học, tách bạch hoạt động dựa vào nguồn ngân sách và hoạt động dựa vào nguồn thu tự chủ, tính toán chi tiết chi phí phải chi cho từng sinh viên trong năm, lên kế hoạch cụ thể chi tiết từng hạng mục chi và tính đúng tính đủ khấu hao tài sản, đầu tư của Nhà nước cũng như trích lập các quỹ phát triển cho hợp lý sau khi tính chênh lệch thu chi.
Bên cạnh đó, việc mở rộng liên kết quốc tế đưa lại nhiều cơ hội cho các trường Đại học công lập nhưng thách thức cũng không ít, bắt buộc các trường phải nâng cao chất lượng đào tạo cả về nội dung chương trình giảng dạy, cơ sở vật chất lẫn đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý để đáp ứng được mặt bằng chung của nền giáo dục trong nước, khu vực và trên thế giới. Học viện Chính sách và Phát triển là trường ĐHCL tự chủ một phần kinh phí chi thường xuyên việc xây dựng và huy động nguồn tài chính hướng đến TCTC sẽ giúp Học viện trong việc quản lý thu, chi tài chính ngày càng được hoàn thiện và phát huy hiệu quả, cơ sở vật chất từng bước được đổi mới, quy mô đào tạo được mở rộng, chất lượng công tác đào tạo được nâng cao, vị thế, uy tín của Học viện được củng cố, đời sống, thu x nhập của cán bộ, giảng viên được nâng lên. Với mục đích nghiên cứu là tìm kiếm các giải pháp khả thi để nâng cao mức độ tự chủ tài chính tại Học viện Chính sách và Phát triển, luận văn đã giải quyết được những vấn đề cơ bản về huy động nguồn tài chính hướng đến tự chủ tài chính của trường đại học công lập. Qua tổng hợp, phân tích và đánh giá tình hình thực cơ chế tự chủ tài chính tại Học viện Chính sách và Phát triển trong giai đoạn 2020-2023; chỉ rõ những kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân của thực trạng thực hiện huy động nguồn tài chính hướng đến tự chủ tài chính tại Học viện.
Từ đó đề xuất phương hướng, một số giải pháp huy động nguồn tài chính hướng đến tự chủ tài chính tại Học viện Chính sách và Phát triển. Tính cấp thiết của đề tài Tự chủ đại học là một xu thế của phát triển, là điều kiện cần thiết để thực hiện các phương thức quản trị đại học tiên tiến nhằm cải tiến và nâng cao chất lượng đào tạo. Trong những năm gần đây, Nhà nước đã quan tâm nhiều về lĩnh vực giáo dục đại học, đặc biệt là ban hành nhiều cơ chế tài chính tạo điều kiện cho các cơ sở giáo dục đại học nâng cao chất lượng đào tạo và mở rộng quy mô đào tạo. Các cơ sở giáo dục đại học không ngừng tự đổi mới, nâng cao uy tín, cải tiến nội dung chương trình giảng dạy nhằm nâng cao chất lượng và đáp ứng nhu cầu học tập của xã hội; không ngừng tìm kiếm các cơ hội liên kết với các đối tác trong và ngoài nước nhằm nâng cao chất lượng và cung ứng nguồn nhân lực tốt cho xã hội.
Tuy nhiên, nguồn lực tài chính vẫn chưa đáp ứng được đòi hỏi của các cơ sở giáo dục đại học và cần phải ngày càng hoàn thiện cơ chế để huy động nguồn tài chính, đặc biệt nguồn tài chính ngoài ngân sách Nhà nước. Nguồn tài chính của các trường Đại học công lập cơ bản là từ Ngân sách Nhà nước và thu từ học phí, đề tài khoa học, thu khác. Trong đó, ngân sách Nhà nước chiếm từ 30%-40%, nguồn thu từ học phí, thu khác chiếm 60%-70% tổng nguồn thu của các trường. Bình quân các trường đại học tự đảm bảo cân đối chi thường xuyên được khoảng 75% từ nguồn thu sự nghiệp.
Tỷ lệ đảm bảo chi thường xuyên bình quân của các trường Đại học công lập hiện nay chưa thể đảm bảo đủ nguồn lực để tăng cường đầu tư cơ sở vật chất và đảm bảo thu nhập tăng thêm cho cán bộ, giảng viên hàng năm. Trước thực trạng này các trường phải tự cân đối bù đắp chi thường xuyên đối với đối với khối đào tạo chính quy tập chung từ các khoản thu của các hệ đào tạo liên kết trong và ngoài nước, đào tạo văn bằng 2, đạo tạo thường xuyên…và các khoản thu khác do nhà trường tự quy định như: Phí thi lại, phí bảo vệ luận văn… 12 Việc cải cách, đổi mới chính sách học phí, lộ trình tăng học phí của các trường đại học trong thời gian qua đã được thực hiện theo Nghị định 43/2006/NĐ- CP ngày 25 tháng 04 năm 2006 quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế đối với đơn vị sự nghiệp công lập. Nghị định này ra đời tạo ra những chuyển biến tích cực trong quản lý tài chính đối với đơn vị sự nghiệp có thu, việc chuyển đổi cơ chế tài chính theo hướng tự chủ lấy nguồn thu sự nghiệp bù đắp chi phí, giảm bớt gánh nặng cho Ngân sách Nhà nước. Sau một thời gian thực hiện, cơ chế tự chủ dần được sửa đổi và hoàn thiện khi Chính phủ lần lượt ban hành Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 (về cơ chế tự chủ của ĐVSNCL) và mới nhất là Nghị định số 60/2021/NĐ-CP ngày 21/6/2021 quy định về cơ chế tự chủ tài chính của các ĐVSNCL thay thế cho tất cả các Nghị định kể trên, đồng thời khắc phục những hạn chế còn tồn tại.
Sự ra đời của Nghị định 60/2021/NĐ-CP đã cụ thể hóa những nội dung của tự chủ tài chính trong các đơn vị sự nghiệp công lập, tạo động lực khuyến khích đơn vị sự nghiệp công lập khai thác nguồn thu, nâng cao mức độ tự chủ tài chính, tăng tự chủ để các đơn vị thực hiện mức độ tự chủ, tạo ra những chuyển biến tích cực trong quản lý tài chính của các đơn vị sự nghiệp công lập, tạo đà phát triển cho các đơn vị sự nghiệp công lập. Học viện Chính sách và Phát triển (HVCSPT) được thành lập từ năm 2008, là đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ một phần kinh phí chi thường xuyên, phần còn lại được Ngân sách nhà nước cấp. Quá trình phát triển trong hơn 10 năm qua cho thấy, Học viện mới bước đầu thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Tại Học viện, việc thực hiện tự chủ tài chính mới được triển khai trong một số nội dung về thu – chi, cụ thể là tự chủ trong các khoản thu (thu học phí, lệ phí, thu từ các nguồn khác) nhưng vẫn khống chế mức trần thu học 13 phí và các nguồn thu phải căn cứ theo quy định của Nhà nước.
Học viện được tự chủ định mức chi tiêu trong chi thường xuyên từ kinh phí ngân sách Nhà cấp nhưng chưa tự chủ về chi đầu tư. Để thực hiện đổi mới về cơ chế tự chủ tài chính đòi hỏi Học viện có những giải pháp phù hợp với các chủ trương, định hướng mới. Vì vậy, tác giả chọn đề tài “Huy động nguồn tài chính hướng đến tự chủ tài chính tại Học viện Chính sách và Phát triển” làm chủ đề nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ của mình. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Huy động nguồn tài chính hướng đến tự chủ tài chính các đơn vị sự nghiệp công lập nói chung và các đơn vị sự nghiệp giáo dục nói riêng là một trong những vấn đề mang tính thời sự ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Trong quá trình nghiên cứu Luận văn, tác giả có tham khảo, nghiên cứu một số công trình khoa học sau: - Trịnh Thị Thanh Loan – Học viện Tài chính (2022) luận án tiến sĩ kinh tế với đề tài: “Huy động nguồn tài chính cho đào tạo nghề khu vực nông thôn Việt Nam”. Luận án nghiên cứu tổng quan về nội dung huy động, cơ chế huy động nguồn tài chính cho Giáo dục nghề nghiệp nói chung và huy động nguồn tài chính cho Giáo dục nghề nghiệp tại các cơ sở Giáo dục nghề nghiệp công lập nói riêng.