Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong cơ cấu kinh tế Việt Nam, nông nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp lương thực, thực phẩm thiết yếu và ổn định an sinh xã hội cho khu vực nông thôn, nơi tập trung phần lớn dân cư và lực lượng lao động. Đối với các đơn vị hành chính cấp xã, đặc biệt là các địa bàn ven đô thị đang trong tiến trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa, công tác xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch sản xuất nông nghiệp đóng vai trò then chốt nhằm khai thác hiệu quả tài nguyên đất đai, nguồn vốn và chuyển đổi sinh kế bền vững cho người dân.
Tại xã Đồng Bẩm, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên, việc triển khai các phương án và kế hoạch phát triển nông nghiệp đã góp phần hình thành các mô hình kinh tế nông thôn dựa trên sự hỗ trợ về cơ chế, chính sách và nguồn vốn từ Ủy ban nhân dân thành phố Thái Nguyên. Tuy nhiên, thực tiễn sản xuất tại địa phương bộc lộ một số khó khăn: quỹ đất nông nghiệp dần bị thu hẹp; hệ thống kênh mương tưới tiêu nội đồng dù đã được đầu tư nhưng tỷ lệ kiên cố hóa chưa hoàn chỉnh (nhiều tuyến vẫn là kênh đất); một bộ phận nhân dân còn tâm lý trông chờ, ỷ lại vào sự hỗ trợ của Nhà nước mà chưa phát huy đầy đủ vai trò chủ thể. Trước bối cảnh đó, tác giả Lê Hồng Quân thực hiện khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp với đề tài "Tìm hiểu việc xây dựng và thực hiện kế hoạch sản xuất nông nghiệp xã Đồng Bẩm – thành phố Thái Nguyên – tỉnh Thái Nguyên".
Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể như sau:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn liên quan đến công tác xây dựng và thực hiện kế hoạch sản xuất nông nghiệp ở cấp cơ sở.
- Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và thực trạng hoạt động sản xuất nông nghiệp tại xã Đồng Bẩm, thành phố Thái Nguyên giai đoạn 2014 – 2016.
- Phân tích quá trình xây dựng, tổ chức thực hiện phương án sản xuất nông nghiệp và các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất, hiệu quả sản xuất của địa phương.
- Xác định những thuận lợi, khó khăn và bài học kinh nghiệm trong quá trình điều hành kế hoạch sản xuất nông nghiệp tại địa bàn.
- Đề xuất hệ thống giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả xây dựng và thực hiện kế hoạch sản xuất nông nghiệp, phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội địa phương.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động xây dựng và thực hiện phương án, kế hoạch sản xuất nông nghiệp; các nguồn lực sản xuất và kết quả ngành trồng trọt, chăn nuôi trên địa bàn xã.
- Phạm vi không gian: Toàn bộ địa bàn hành chính xã Đồng Bẩm, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên (đơn vị thực tập: Ủy ban nhân dân xã Đồng Bẩm, địa chỉ xóm Ao Voi).
- Phạm vi thời gian: Quá trình thực tập diễn ra từ ngày 20/02/2017 đến ngày 20/05/2017; dữ liệu thứ cấp và tình hình sản xuất được thu thập, phân tích tập trung trong giai đoạn 2014 – 2016 (trọng tâm là số liệu điều tra năm 2016).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Cơ sở lý luận và khung pháp lý
Khóa luận tiếp cận vấn đề dựa trên các khái niệm chuyên ngành kinh tế nông nghiệp và quản lý phát triển nông thôn:
- Khái niệm nông nghiệp và kinh tế nông thôn: Nông nghiệp được phân tích theo nghĩa hẹp (trồng trọt, chăn nuôi và dịch vụ nông nghiệp) và nghĩa rộng (bao gồm nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản); nhấn mạnh đặc thù sản xuất phụ thuộc tự nhiên, tính thời vụ cao và năng suất lao động. Kinh tế nông thôn được xác định là một không gian kinh tế đa ngành (nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ) với nhiều thành phần kinh tế tham gia.
- Khái niệm và quy trình kế hoạch hóa: Kế hoạch sản xuất nông nghiệp là chương trình hành động phân bổ các nguồn lực (nhân lực, tài lực, vật lực) nhằm đạt được các mục tiêu năng suất, sản lượng và giá trị trên một đơn vị diện tích. Quy trình xây dựng kế hoạch bao gồm: xác định mục tiêu; xác định nội dung công việc; lựa chọn phương thức tiến hành; phân bổ nguồn lực và thiết lập cơ chế kiểm tra, giám sát.
- Hệ thống văn bản pháp lý làm căn cứ:
- Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 (quy định về quản lý đất đai).
- Luật Đất đai năm 2013.
- Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính phủ quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ tái định cư.
- Nghị định số 42/2012/NĐ-CP về chính sách hỗ trợ bảo vệ và phát triển đất trồng lúa.
- Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/06/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 – 2020.
- Quyết định số 124/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển sản xuất ngành nông nghiệp đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030.
- Thông tư số 30/2004/TT-BTNMT ngày 01/11/2004 của Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn điều chỉnh, thẩm định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
- Thông tư số 07/2010/TT-BNNPTNT ngày 08/02/2010 của Bộ Nông nghiệp và PTNT hướng dẫn quy hoạch phát triển sản xuất nông nghiệp cấp xã theo Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới.
- Thông tư liên tịch số 42/2013/TTLT-BNNPTNT-BTC-BKHĐT ngày 16/10/2013 hướng dẫn thực hiện chính sách hỗ trợ áp dụng Quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt (VietGAP).
- Thông tư số 28/2014/TT-BTNMT ngày 02/06/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về thống kê, kiểm kê đất đai và lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất.
- Các văn bản cấp tỉnh: Quyết định số 3480/QĐ-UBND (kế hoạch sử dụng đất tỉnh Thái Nguyên) và Quyết định số 874/QĐ-UBND (bổ sung cơ cấu giống lúa năm 2013 của tỉnh Thái Nguyên).
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng kết hợp các phương pháp định tính và định lượng trong phân tích kinh tế:
- Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp: Thu thập từ các văn kiện, báo cáo tổng kết tình hình kinh tế - xã hội, kế hoạch sản xuất hàng năm của UBND xã Đồng Bẩm; tài liệu thống kê của các phòng, ban chuyên môn thành phố Thái Nguyên và các ấn phẩm khoa học liên quan.
- Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp: Quan sát thực địa tình hình canh tác; phỏng vấn nhanh các nông hộ về mức sống, điều kiện sản xuất và mức độ tiếp nhận kế hoạch; tham vấn trực tiếp các cán bộ thuộc bộ phận khuyến nông, văn phòng thống kê và lãnh đạo xã.
- Phương pháp thống kê kinh tế và so sánh: Sử dụng hệ thống chỉ tiêu số tuyệt đối (phản ánh quy mô diện tích, sản lượng, số lượng vật nuôi), số tương đối (tỷ lệ cơ cấu, tốc độ phát triển qua các năm) và số bình quân (năng suất, thu nhập bình quân đầu người) để đánh giá biến động kinh tế nông nghiệp giữa các năm 2014, 2015 và 2016.
- Công cụ xử lý: Sử dụng phần mềm Microsoft Excel để tính toán, tổng hợp bảng biểu và vẽ đồ thị cơ cấu.
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Mở đầu
Tác giả trình bày tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ vai trò của nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân và thực tiễn phát triển kinh tế nông nghiệp cấp xã trong bối cảnh đô thị hóa. Nội dung nêu bật mục tiêu nghiên cứu tổng quát và mục tiêu cụ thể; đồng thời trình bày các mục tiêu rèn luyện cá nhân về chuyên môn nghiệp vụ, đạo đức công vụ và kỹ năng làm việc thực tế tại cơ quan quản lý nhà nước. Tác giả cũng giới thiệu khái quát nội dung thực hiện, hệ thống phương pháp nghiên cứu, giới hạn phạm vi không gian tại xã Đồng Bẩm và thời gian thực tập 3 tháng (từ tháng 2 đến tháng 5 năm 2017).
Phần 2: Tổng quan
Nội dung chương tập trung vào ba trụ cột:
- Hệ thống hóa lý luận: Phân tích bản chất của công tác lập quy hoạch, kế hoạch phát triển nông nghiệp, kinh tế nông thôn và vai trò của kế hoạch như một công cụ quản lý, phân bổ nguồn lực và kiểm soát sản xuất.
- Cơ sở pháp lý: Trích dẫn và phân tích các văn bản quy phạm pháp luật từ cấp Trung ương (Luật Đất đai, các Quyết định, Nghị định của Chính phủ, Thông tư của Bộ Nông nghiệp & PTNT, Bộ Tài nguyên & Môi trường) đến cấp tỉnh (UBND tỉnh Thái Nguyên), tạo hành lang pháp lý cho quy hoạch nông nghiệp cấp xã.
- Cơ sở thực tiễn: Tổng kết kinh nghiệm chỉ đạo sản xuất nông nghiệp từ các địa phương lân cận:
- Xã Thượng Lâm (huyện Lâm Bình, tỉnh Tuyên Quang): Kinh nghiệm đưa cơ giới hóa vào đồng ruộng (vận động đầu tư hơn 100 máy làm đất, 10 máy tuốt lúa, 40 máy tẽ ngô, 130 km đường giao thông nội đồng bê tông hóa) và phát triển mô hình kinh tế tập thể (6 HTX, 7 tổ hợp tác), nâng thu nhập bình quân từ 7 triệu đồng/người/năm (2011) lên 19 triệu đồng/người/năm (2015).
- Các xã Huống Thượng, Hòa Bình, Minh Lập (huyện Đồng Hỷ, Thái Nguyên): Mô hình xây dựng nông thôn mới gắn với chuyển đổi cơ cấu cây trồng. Xã Huống Thượng phát triển 120 ha lúa cao sản, hơn 100 ha rau giá trị cao và 6 ha hoa chất lượng cao để đối phó với tình trạng ngập lụt, nâng thu nhập lên 17 triệu đồng/người/năm và giảm tỷ lệ nghèo còn 6,6%. Xã Hòa Bình chuyển đổi sang trồng chè cành chất lượng cao, đẩy mạnh cơ giới hóa, đưa thu nhập đạt 24,3 triệu đồng/người/năm và giảm nghèo từ 18,5% xuống 8,61%.
- Xã Đông Bắc (huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình): Kinh nghiệm điều hành sản xuất tập trung, vai trò của cán bộ khuyến nông trong việc cung ứng bộ giống đúng lịch thời vụ, họp giao ban hàng tuần tại các xóm và chủ động dự báo, phòng trừ bảo vệ thực vật, đưa năng suất lúa từ 45 tạ/ha lên 70 tạ/ha.
- Bài học kinh nghiệm rút ra cho xã Đồng Bẩm: Chú trọng năng lực lãnh đạo, phát huy dân chủ cơ sở ("dân chủ, công khai, minh bạch"), nâng cao trách nhiệm cán bộ khuyến nông và đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu cây trồng gắn với liên kết thị trường.
Phần 3: Kết quả thực tập và nghiên cứu tại xã Đồng Bẩm
Chương này phản ánh toàn diện thực trạng tự nhiên, kinh tế - xã hội và quy trình tổ chức thực hiện kế hoạch sản xuất nông nghiệp tại địa bàn nghiên cứu:
- Điều kiện tự nhiên: Tổng diện tích tự nhiên của xã Đồng Bẩm là 402,22 ha; địa hình tương đối bằng phẳng xen kẽ đồi núi thấp, hướng dốc Bắc - Nam, tiếp giáp sông Cầu và suối Linh Nham. Khí hậu chia làm hai mùa rõ rệt, nhiệt độ trung bình năm đạt 25°C, giờ nắng dao động 1.300 - 1.750 giờ/năm, độ ẩm không khí trung bình 87,58%.
- Hiện trạng sử dụng đất:
- Nhóm đất nông nghiệp: 215,90 ha (chiếm 53,68%).
- Nhóm đất phi nông nghiệp: 182,43 ha (chiếm 45,35%).
- Nhóm đất chưa sử dụng: 3,89 ha (chiếm 0,97%).
- Hạ tầng kỹ thuật và tiêu chí nông thôn mới: Đường trục xã, liên xã nhựa hóa 3,33 km (đạt 100%); đường trục xóm, liên xóm bê tông hóa 6,563 km (đạt 94%); đường ngõ xóm cứng hóa 100%; đường giao thông nội đồng bê tông hóa đạt 56%. Kênh mương nội đồng được kiên cố hóa 0,4/0,715 km (đạt 56%) do HTX Dịch vụ nông nghiệp - thủy lợi quản lý. Lưới điện quốc gia có 7 trạm biến áp, đáp ứng 100% hộ dân. Thu gom rác thải đạt 30 tấn/tháng với 20 điểm tập kết tại 10 xóm.
- Dân số và biến động lao động: Năm 2016, dân số toàn xã là 6.977 người (1.666 hộ), trong đó nam giới là 3.628 người, nữ giới là 3.349 người. Tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống còn 2,24%, thu nhập bình quân đạt 42 triệu đồng/người/năm. Đáng chú ý, cơ cấu hộ và lao động có sự chuyển dịch mạnh mẽ sang khu vực phi nông nghiệp: số hộ phi nông nghiệp chiếm 63,27% (1.054 hộ), hộ nông nghiệp chỉ còn 36,73% (612 hộ). Lực lượng lao động phi nông nghiệp đạt 4.290 người (86,97%), trong khi lao động nông nghiệp chỉ còn 643 người (13,03%).
- Đội ngũ xây dựng kế hoạch: Kế hoạch sản xuất nông nghiệp của xã được xây dựng với sự tham gia của 20 thành viên thuộc các nhóm chuyên môn, bảo đảm gắn kết giữa chỉ đạo hành chính, kỹ thuật chuyên môn và liên kết tiêu thụ sản phẩm.
- Lịch gieo trồng và kết quả sản xuất: Xã áp dụng khung lịch thời vụ chặt chẽ cho lúa (vụ chiêm xuân gieo tháng 1, thu hoạch tháng 5; vụ mùa gieo tháng 6, thu hoạch tháng 10; gieo mạ vụ sau vào tháng 12), ngô (trồng tháng 9-10, thu hoạch tháng 12), lạc (hai vụ: gieo tháng 2 thu hoạch tháng 6; gieo tháng 7 thu hoạch tháng 11), rau đậu các loại. Tổng sản lượng lương thực có hạt năm 2016 đạt 774,1 tấn, vượt kế hoạch (727,5 tấn, đạt 106,41%).
- Biến động ngành chăn nuôi: Giai đoạn 2014 – 2016 ghi nhận sự sụt giảm đàn trâu (từ 139 con xuống 59 con) và đàn bò (từ 36 con xuống 27 con) do đẩy mạnh cơ giới hóa nông nghiệp và diện tích đất chăn thả ven đô bị thu hẹp; đàn gia cầm duy trì mức 25.700 con.
Phần 4: Kết luận
Khóa luận tóm lược lại các kết quả chính đạt được qua đợt thực tập, khẳng định vai trò của việc lập kế hoạch sản xuất trong việc hoàn thành các chỉ tiêu nông thôn mới tại xã Đồng Bẩm, đồng thời nêu các đề xuất hoàn thiện cơ chế, chính sách hỗ trợ nông dân tại địa phương.
Kết quả và đóng góp
Số liệu thực chứng về sản xuất nông nghiệp và dân sinh
Bảng số liệu tổng hợp phản ánh các chỉ tiêu kinh tế - xã hội chủ yếu của xã Đồng Bẩm giai đoạn 2014 – 2016:
| Chỉ tiêu nghiên cứu |
Đơn vị tính |
Năm 2014 |
Năm 2015 |
Năm 2016 |
So sánh 2016/2014 (%) |
| 1. Dân số và lao động |
|
|
|
|
|
| - Tổng số nhân khẩu |
Người |
6.435 |
- |
6.977 |
108,42 |
| - Tổng số hộ |
Hộ |
1.597 |
1.640 |
1.666 |
104,32 |
| + Hộ nông nghiệp |
Hộ |
679 (42,52%) |
655 (39,94%) |
612 (36,73%) |
90,13 |
| + Hộ phi nông nghiệp |
Hộ |
918 (57,48%) |
985 (60,06%) |
1.054 (63,27%) |
114,81 |
| - Tổng lực lượng lao động |
Người |
4.555 |
4.582 |
4.933 |
108,30 |
| + Lao động nông nghiệp |
Người |
584 (12,82%) |
597 (13,03%) |
643 (13,03%) |
110,10 |
| + Lao động phi nông nghiệp |
Người |
3.971 (87,18%) |
3.985 (86,97%) |
4.290 (86,97%) |
108,03 |
| 2. Tình hình chăn nuôi |
|
|
|
|
|
| - Đàn trâu |
Con |
139 |
116 |
59 |
42,44 |
| - Đàn bò |
Con |
36 |
31 |
27 |
75,00 |
| - Đàn gia cầm |
Con |
24.893 |
- |
25.700 |
103,24 |
| 3. Sản xuất và thu nhập |
|
|
|
|
|
| - Sản lượng lương thực có hạt |
Tấn |
- |
- |
774,1 / 727,5 KH |
Đạt 106,41% KH |
| - Tỷ lệ hộ nghèo |
% |
- |
- |
2,24 |
- |
| - Thu nhập bình quân |
Triệu đ/người/năm |
- |
- |
42 |
- |
(Nguồn: Số liệu trích xuất từ báo cáo thống kê UBND xã Đồng Bẩm trong văn bản)
Bên cạnh đó, tác giả đã lượng hóa cơ cấu nhân sự tham gia trực tiếp vào công tác lập kế hoạch sản xuất nông nghiệp tại cấp xã qua bảng tổng hợp sau:
| Thành phần tham gia |
Số lượng (người) |
Trình độ học vấn |
Phân công nhiệm vụ |
| Phó Chủ tịch UBND xã |
1 |
Đại học |
Trưởng ban chỉ đạo sản xuất chung |
| Chủ tịch Hội Nông dân xã |
1 |
Đại học |
Phó ban chỉ đạo sản xuất, tuyên truyền, vận động |
| Cán bộ khuyến nông xã |
1 |
Đại học |
Khuyến cáo cơ cấu giống cây trồng, vật tư |
| Cán bộ thống kê |
1 |
Đại học |
Xây dựng kế hoạch, tổng hợp báo cáo cấp trên |
| Trưởng xóm |
10 |
12/12 |
Góp ý thực tế, phản ánh thuận lợi/khó khăn của từng xóm |
| Giám đốc doanh nghiệp |
6 |
12/12 |
Đưa ra điều kiện cần và đủ để thu mua nông sản |
Giải pháp và kiến nghị của tác giả
- Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu cây trồng và quy hoạch vùng chuyên canh: Chuyển đổi các diện tích lúa kém hiệu quả sang trồng rau an toàn, hoa cây cảnh chất lượng cao; ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật nhằm gia tăng giá trị kinh tế trên một đơn vị diện tích đất nông nghiệp (215,90 ha).
- Kiên cố hóa hạ tầng nông nghiệp: Tiếp tục huy động các nguồn lực để nâng cấp 44% hệ thống kênh mương nội đồng còn lại (hiện mới đạt 0,4/0,715 km bê tông hóa) và hệ thống đường nội đồng nhằm phục vụ cơ giới hóa sản xuất.
- Phát triển chăn nuôi tập trung xa khu dân cư: Quy hoạch các trang trại chăn nuôi gia súc, gia cầm tập trung ứng dụng công nghệ cao để giải quyết bài toán ô nhiễm môi trường khi xã tiếp tục đô thị hóa.
- Nâng cao năng lực cán bộ và thay đổi nhận thức người dân: Tăng cường tập huấn chuyên môn cho cán bộ khuyến nông, phát huy vai trò giám sát, đồng thời xóa bỏ tư tưởng ỷ lại vào ngân sách nhà nước của một bộ phận người dân; thực hiện nghiêm phương châm “dân chủ, công khai, minh bạch”.
- Thúc đẩy liên kết tiêu thụ sản phẩm: Kết nối chặt chẽ giữa chính quyền xã, nông hộ với 6 doanh nghiệp thu mua nông sản trên địa bàn nhằm bảo đảm đầu ra ổn định cho nông sản địa phương.
Đóng góp của đề tài
Khóa luận đã hệ thống hóa quy trình lập kế hoạch sản xuất nông nghiệp ở cấp xã tại một địa bàn ven đô (Đồng Bẩm) đang chịu tác động mạnh của quá trình chuyển dịch kinh tế (tỷ trọng lao động phi nông nghiệp chiếm gần 87%). Công trình cung cấp bộ số liệu xác thực về đất đai, dân số, biến động chăn nuôi, lịch mùa vụ và mô hình tổ chức bộ máy nhân sự lập kế hoạch cấp cơ sở, bổ sung tài liệu thực tiễn cho công tác quản trị kinh tế nông nghiệp tại địa phương.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế:
- Khóa luận được thực hiện trong khung thời gian thực tập 3 tháng (20/02/2017 – 20/05/2017), chủ yếu dựa trên các báo cáo thống kê sẵn có của UBND xã Đồng Bẩm; một số bảng số liệu chuyên sâu về chi phí trên 1 ha cây trồng và hạch toán doanh thu toàn ngành trồng trọt chưa được trình bày chi tiết số liệu tính toán.
- Tác giả tự nhận định kinh nghiệm chuyên môn thực tế, kỹ năng xử lý các vấn đề phát sinh và trang thiết bị hỗ trợ điều tra thực địa (như máy ảnh, thiết bị đo đạc) còn nhiều hạn chế trong quá trình thực hiện đề tài.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Cần tiến hành điều tra mẫu ngẫu nhiên có quy mô lớn hơn đối với các nông hộ để đánh giá chi tiết chi phí - lợi nhuận (tỷ suất sinh lời) của từng giống cây trồng cụ thể.
- Đánh giá sâu hơn tác động của quá trình đô thị hóa thành phố Thái Nguyên đến việc thu hồi đất nông nghiệp và chuyển đổi sinh kế của các hộ nông dân tại xã Đồng Bẩm sau năm 2016.
Giá trị tham khảo
Tài liệu khóa luận có giá trị thực tiễn đối với:
- Sinh viên đại học: Là tài liệu tham khảo cho sinh viên các ngành Kinh tế nông nghiệp, Phát triển nông thôn, Quản lý đất đai và Khuyến nông khi thực hiện khóa luận tốt nghiệp, bài tập lớn về quy trình lập kế hoạch sản xuất cấp xã.
- Cán bộ quản lý nông nghiệp cơ sở: Cung cấp mẫu khung phân công nhân sự lập kế hoạch (kết hợp cán bộ xã, trưởng xóm và doanh nghiệp tiêu thụ) và mô hình phối hợp lịch thời vụ cho các xã vùng bán sơn địa, ven đô.
- Các nội dung đáng tham khảo:
- Bảng cơ cấu nhân sự tham gia xây dựng kế hoạch sản xuất nông nghiệp (Bảng 3.5).
- Khung lịch gieo trồng các loại cây trồng hàng năm (Bảng 3.6).
- Phương pháp phân tích chuyển dịch cơ cấu hộ và cơ cấu lao động giữa nông nghiệp và phi nông nghiệp trong điều kiện đô thị hóa.
Câu hỏi thường gặp
1. Đội ngũ tham gia xây dựng kế hoạch sản xuất nông nghiệp tại xã Đồng Bẩm gồm những ai và trình độ ra sao?
Đội ngũ gồm 20 thành viên: 4 cán bộ cấp xã có trình độ Đại học (Phó Chủ tịch UBND xã làm Trưởng ban chỉ đạo chung, Chủ tịch Hội Nông dân làm Phó ban chỉ đạo, Cán bộ khuyến nông phụ trách giống/vật tư, Cán bộ thống kê phụ trách tổng hợp); cùng 10 Trưởng xóm (trình độ 12/12, phản ánh tình hình thuận lợi/khó khăn của từng xóm) và 6 Giám đốc doanh nghiệp trên địa bàn (trình độ 12/12, đưa ra các yêu cầu thu mua nông sản).
2. Cơ cấu hộ và lao động tại xã Đồng Bẩm biến động như thế nào trong giai đoạn 2014 – 2016?
Cơ cấu chuyển dịch rõ nét sang phi nông nghiệp: Tỷ lệ hộ phi nông nghiệp tăng từ 57,48% (918 hộ) năm 2014 lên 63,27% (1.054 hộ) năm 2016; hộ nông nghiệp giảm tương ứng từ 42,52% (679 hộ) xuống 36,73% (612 hộ). Về lao động, đến năm 2016, toàn xã có 4.933 lao động nhưng lao động nông nghiệp chỉ chiếm 13,03% (643 người), trong khi lao động phi nông nghiệp chiếm áp đảo với 86,97% (4.290 người).
3. Kết quả sản xuất lương thực và chăn nuôi năm 2016 của xã Đồng Bẩm đạt được những con số cụ thể nào?
Năm 2016, tổng sản lượng lương thực có hạt của xã đạt 774,1 tấn, hoàn thành 106,41% so với kế hoạch (727,5 tấn). Ở ngành chăn nuôi, đàn trâu giảm mạnh từ 139 con (năm 2014) xuống 59 con (năm 2016); đàn bò giảm từ 36 con xuống 27 con do cơ giới hóa thay thế sức kéo và diện tích chăn thả bị thu hẹp; đàn gia cầm duy trì ở mức 25.700 con.
4. Hiện trạng đất đai và hệ thống thủy lợi phục vụ sản xuất của xã Đồng Bẩm ra sao?
Xã quản lý tổng diện tích 402,22 ha, gồm đất nông nghiệp 215,90 ha (53,68%), đất phi nông nghiệp 182,43 ha (45,35%) và đất chưa sử dụng 3,89 ha (0,97%). Hệ thống kênh mương nội đồng do HTX Dịch vụ nông nghiệp - thủy lợi quản lý mới bê tông hóa được 0,4/0,715 km (đạt 56%), nhiều tuyến vẫn là kênh đất gây trở ngại cho việc tưới tiêu.
5. Tác giả tham khảo kinh nghiệm từ những địa phương nào để xây dựng giải pháp cho xã Đồng Bẩm?
Tác giả đã nghiên cứu và tổng kết kinh nghiệm từ xã Thượng Lâm (huyện Lâm Bình, Tuyên Quang) về cơ giới hóa đồng bộ; các xã Huống Thượng và Hòa Bình (huyện Đồng Hỷ, Thái Nguyên) về chuyển đổi sang trồng rau cao sản, chè cành và hoa chất lượng cao; và xã Đông Bắc (huyện Kim Bôi, Hòa Bình) về điều hành thời vụ nghiêm ngặt và công tác dự báo bảo vệ thực vật của cán bộ khuyến nông.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Lê Hồng Quân đã phản ánh toàn diện thực trạng công tác xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch sản xuất nông nghiệp tại xã Đồng Bẩm giai đoạn 2014 – 2016. Nghiên cứu chỉ ra bức tranh chuyển dịch cơ cấu kinh tế mạnh mẽ sang phi nông nghiệp tại một xã ven đô của thành phố Thái Nguyên, đồng thời làm rõ những tồn tại về hạ tầng kênh mương và sự suy giảm chăn nuôi truyền thống. Các số liệu và giải pháp được tác giả tổng hợp từ thực tế cung cấp nguồn dữ liệu hữu ích cho việc quản lý nhà nước về nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới tại địa bàn cấp xã.