phần mở đầu, thân bài và kết bài. 9 Trong đó, mỗi phần có chức năng riên biệt: Phần dẫn nhập cũng là phần nêu lên chủ đề, dẫn nhập có thể bắt đầu 1 câu mang tính giới thiệu. Phần tiếp theo là phần thân bài là quá trình triển khai, làm sáng tỏ các chủ đề của văn bản, câu trần thuật. Thường được cấu trúc bằng nhiều đoạn/câu và mỗi đoạn câu đều thực hiện chức năng riêng.
Phần cuối cùng là kết luận nhằm tóm lược, kết luận, đánh giá lại nội dung của đoạn văn và có thể gợi ý thêm các ý tứ để viết tiếp. Phép liên kết trong văn bản Quan điểm về phép liên kết trong văn bản của Trần Ngọc Thêm được ông trình bày chi tiết trong Hệ thống liên kết văn bản Tiếng Việt (1985, tái bản lần hai có sửa chữa 1999). Ở vào thời điểm ấy, cuốn sách của Trần Ngọc Thêm giới thiệu một hướng mới trong việc nghiên cứu liên kết dựa vào đơn vị mà chúng liên kết. Xét trên quan điểm phương pháp luận thì đây là hướng nghiên cứu có tính biện chứng và toàn diện.
Tác giả đưa ra với những cấu trúc nòng cốt của phát ngôn trong Tiếng Việt. Với cách hiểu như vậy thì cấu trúc vừa nêu là cấu trúc đề-thuyết mà phần đề là trung tâm ngữ pháp, phần thuyết là trung tâm ngữ nghĩa và cấu trúc là “chỗ giao nhau của ngữ pháp và ngữ nghĩa”. Bốn cấu trúc ấy được tác giả tách bạch rất rõ: nòng cốt đặc trưng, nòng cốt quan hệ, nòng cốt tồn tại và nòng cốt qua lại. Theo tác giả, phương thức liên kết gồm có: Phép tuyến tính, phéo lặp, phép thế đồng nghĩa, phép liên tưởng.
Loại thứ hai là các phương thức liên kết hợp nghĩa, gồm các phép thể đại từ, phép tỉnh lược yếu, phép nối lỏng. Loại thứ ba là các phương thức liên kết trực thuộc, gồm có phép nối chặt và phép tỉnh lược mạnh. Tuy nhiên vào những năm 1970 thì cho rằng liên kết là: là một khái niệm chuyên môn, mà không thuộc cấu trúc ngôn ngữ. Tuy nhiên quan điểm này vẫn đưa ra bản thân các yếu tố cấu trúc ngôn ngữ là các thuộc tính liên kết.
Với quan điểm trên thì liên kết câu không giữ vai trò quan trong trong sản 10 phẩm của ngôn ngữ. Tác giả Halliday và Hassan là hai nhà ngôn ngữ học. Hai tác giả này đã nhận ra sự chật hẹp của câu và coi câu không phải là đơn vị cuối cùng của giao tiếp mà là văn bản, trong đó các phương tiện liên kết góp phần làm cho văn bản mạch lạc: “ Đơn vị cơ bản khi chúng ta sử hay câu, mà là văn bản” [8, tr. Năm 1976, Halliday và Hassan công bố lần đầu cuốn sách Liên kết trong tiếng Anh.
Trong cuốn sách này, hai tác giả đã trình bày cách hiểu và quan niệm về liên kết văn bản thuộc về hệ thống coi hệ thống là phạm trù trung tâm của lí thuyết – một cách hiểu khác xa với một số nhà ngôn ngữ học coi liên kết thuộc về cấu trúc. Theo hai tác giả này, hệ thống là một sự lựa chọn có sẵn trong ngữ pháp của mỗi ngôn ngữ. Ngữ pháp chức năng hệ thống không phải là ngữ pháp ngữ đoạn mà là ngữ pháp hệ hình hay đối vị, do đó mô tả một cái gì đó có quan hệ với tất cả các sự vật khác hẳn phải nằm trong đối hệ, vì mỗi bộ phận chỉ là một phần của toàn hệ thống. Quan niệm về liên kết của Halliday được trình bày ở cuốn sách trên và trong “Dẫn luận ngữ pháp chức năng” (ấn bản lần thứ hai, tái bản lần thứ sáu 1998) là chỉ liên quan đến các yếu tố nằm trong đối hệ và không tính đến các cấu trúc ngôn ngữ.
Có thể thấy, tác giả bày tỏ khá cụ thể về khái niệm liên kết được thể hiện ở phép liên kết từ vựng, phép liên kết quy chiếu, phép tỉnh lược, phép thay thế và phép nối. Trong luận văn, chúng tôi cũng kế thừa nghiên cứu của tác giả để hướng dẫn học sinh thực hành các phép liên kết văn bản. Tại nước ta, đi theo quan điểm của Halliday và Hassan là Diệp Quang Ban, ông đã có nhiều ứng dụng vào tiếng Việt. Cách hiểu về liên kết trong văn bản của ông được trình bày chi tiết trên nhiều bài viết, tạp chí Ngôn ngữ và hai cuốn sách Văn bản và liên kết trong tiếng Việt (1998), Giao tiếp văn bản, mạch lạc, liên kết, đoạn văn (2002).
Ông cho rằng, liên kết giữa đoạn văn với đoạn văn được kết nối bằng các từ ngữ có tác dụng liên kết và trong liên kết văn bản là sự nối kết ý nghĩa của câu với câu. 11 Như vậy, liên kết văn bản là cách kết hợp nhiều thành phần, nhiều yếu tố để làm cho nội dung trong văn bản thống nhất chặt chẽ và mạch lạc. Có hai cách liên kết đó là liên kết về nội dung và liên kết về mặt hình thức. Hướng dẫn học sinh thực hành các phép liên kết văn bản Hướng dẫn HS thực hành bài tập đến giai đoạn hiện nay đã nhiều nhà nghiên cứu đưa ra trong đó: Theo Pestalogy, nhà giáo dục Thụy Sĩ, từ giữa thế kỷ XVIII đã khẳng định: “Khả năng thực hiện những điều mà trái tim và khối óc đòi hỏi phần lớn là tùy thuộc vào những kỹ năng hành động của con người.
Đồng quan điểm với Pestalogy, các nhà tâm lý học và giáo dục học Liên Xô (cũ) như L. Khalamop… trong nhiều bài viết, công trình nghiên cứu của mình cũng đã nhấn mạnh “quá trình dạy học là quá trình tổ chức cho học sinh thực hiện các thực hành”, đồng thời, đưa ra yêu cầu “để thực hành cần đưa ra các bài dạng luyện tập phải đa dạng, đòi hỏi sự suy nghĩ và đôi chút sáng tạo”. Như vậy, việc hướng dẫn HS thực hành sẽ có các dạng: Thực hành trên dạng bài tiếp nhận kiến thức mới; thực hành rèn luyện các kỹ năng và thực hành để tái tạo kiến thức,. Đến nay đã có một số nghiên cứu về hướng dẫn HS thực hành của các tác giả như Nguyễn Cảnh Toàn, Thái Duy Tuyên, Lê A, Lê Phương Nga, Lê Hữu Tỉnh, Nguyễn Quang Ninh, Đỗ Xuân Thảo, Hồ Lê, Nguyễn Minh Thuyết,… còn phải kể đến một số nghiên cứu khác như: “Hệ thống bài tập rèn luyện năng lực từ ngữ cho học sinh tiểu học ” của Lê Hữu Tỉnh, “Hệ thống bài tập điền từ trong môn tiếng Việt bậc tiểu học” của Nguyễn Hồng Mạc, “Xây dựng hệ thống bài tập rèn luyện kỹ năng viết văn miêu tả cho học sinh tiểu học” của Xuân Thị Nguyệt Hà, .Có thể thấy, các nghiên cứu đều nhấn mạnh đến vai trò của việc thực hành cho HS bởi với việc hướng dẫn HS thực hành sẽ tạo sẽ tạo ra những tình huống nhằm kích thích người học phát triển tư duy, phát huy năng lực tự học, mặt khác, thông qua đó để bồi dưỡng niềm 12 đam mê, sáng tạo trong học tập của học sinh.
Như vậy, hướng dẫn HS thực hành các phép liên kết trong văn bản là việc luyện tập, củng cố lại kiến thức đã học, vừa được thực hành bài tập từ đó hình thành những kĩ năng cần thiết củng cố kiến thức, kĩ năng của HS trong quá trình học các phép liên kết văn bản. Cơ sở lý luận về các phép liên kết văn bản trong chương trình Ngữ Văn Trung học cơ sở 1. Các phép liên kết văn bản Theo Nguyễn Thị Thu Hà liên kết văn bản có hai cách liên kết là liên kết về mặt nội dung và liên kết về hình thức. Liên kết về nội dung thể hiện ở việc gắn kết với đề tài, chủ đề.
Các lời ca dao liên kết với nhau khi có cùng nội dung. Liên kết về hình thức thể hiện sự gắn bó giữa các câu (dòng), các khổ thơ với nhau bởi các yếu tố hình thức. Liên kết hình thức thường thể hiện qua các phương thức: lặp, thế, liên tưởng, nối, tỉnh lược, song hành và đảo ngữ. Việc liên kết câu (dòng), khổ thơ trong cao dao là một trong phương thức sáng tác ca dao.
Liên kết là cách kết hợp “các yếu tố ngôn ngữ có thể đặt bên cạnh nhau nhờ vào mối quan hệ tương cận giữa chúng” (Nguyễn Phan Cảnh, 1987). Cách hiểu này thể hiện việc liên kết văn bản chủ yếu là liên kết ở nội dung. Khái niệm liên kết còn được hiểu gần giống với khái niệm kết cấu ở chỗ là sự sắp xếp, xếp đặt, phan bố các yếu tố hình thức của tác phẩm. Liên kết là sự kết hợp, gắn bó các câu trong đoạn, giữa các đoạn, các phần với nhau.
Theo quan niệm này, khái niệm liên kết được hiểu là việc liên kết giữa các câu (dòng), đoạn, văn bản.nói chung chủ yếu liên kết về hình thức. Ở đây, chúng tôi hiểu khái niệm liên kết theo cả hai quan niệm trên. Liên kết là phương thức phổ biến trong kết cấu của bản. Phương thức liên kết: phương thức liên kết văn bản là cách thức kết hợp nhiều thành phần, nhiều yếu tố để làm cho nội dung trình bày trong văn 13 bản liền mạch, rõ ý, tạo thành một thể thống nhất chặt chẽ và mạch lạc.
Phương thức liên kết văn bản là cách tạo mối liên hệ, sự gắn kết chặt chẽ giữa các câu này với câu khác trong một đoạn văn bản. Khái niệm phương thức liên kết khác với khái niệm cấu trúc xâu chuỗi của X. Lazychin đã diễn ra khái niệm cấu trúc xâu chuỗi qua hình ảnh bức tranh như sau: Các bức tranh trong bài ca xâu chuỗi với nhau, hình ảnh cuối của bức tranh thứ nhất là hình ảnh cuối của bức tranh thứ hai là hình ảnh đầu của bức tranh thứ hai, hình ảnh bức tranh thứ hai là hình ảnh đầu của bức tranh thứ ba.cứ thế đến hết bài. Hình ảnh quan trọng nhất sẽ biểu hiện nội dung chính của tác phẩm (X.
Lazychin đã thể hiện cấu trúc xâu chuỗi trong một bài ca qua sự liên kết giữa các hình ảnh, còn phương thức liên kết câu (đoạn), đoạn văn hay thành phầ (yếu tố) của khổ thơ để tạo ra văn bản mới. Các phương thức liên kết văn bản: Trong đoạn văn là một đơn vị ngữ pháp có ý nghĩa tương đối trọn vẹn, nhưng ít khi đứng riêng lẻ một mình mà phải có nhiều đoạn đi kèm để thực hiện một nội dung thông báo nào đó. Các câu, dòng, đoạn này có quan hệ chặt chẽ với nhau, tạo thành một thể thống nhất để chuyển đạt nội dung. Muốn đạt được điều đó, các đoạn, dòng phải liên kết chặt chẽ với nhau về nội dung và hình thức.