mở đầu thử nghiệm với một số cơ sở như: Viện nghiên cứu Standford, Đại học California ở Los Angeles, Đại học California ở Santa Barbara,. Mục tiêu của dự án này là sẽ mở rộng ra các cơ sở nghiên cứu liên quan tới lĩnh vực quân sự, hình thành một mạng máy tính có độ tin cậy cao phù hợp với yêu cầu của các hoạt động trong lĩnh vực quân sự và quốc phòng. Dự án thành công vang dội và mạng máy tính hình thành được đặt tên là ARPANET. Sau đó, mạng ARPANET được mở rộng nhanh chóng và trở thành một mạng quốc gia.
Thuật ngữ "Internet" xuất hiện lần đầu vào khoảng năm 1974. Lúc đó mạng vẫn được gọi là ARPANET. Năm 1983, giao thức TCP/IP chính thức được coi như một chuẩn đối với ngành quân sự Mỹ và tất cả các máy tính nối với ARPANET phải sử dụng chuẩn mới này. Năm 1984, ARPANET được chia ra thành hai phần: phần thứ nhất vẫn được gọi là ARPANET, dành cho việc nghiên cứu và phát triển; phần thứ hai được gọi là MILNET, là mạng dùng cho các mục đích quân sự.
Giao thức TCP/IP ngày càng thể hiện rõ các điểm mạnh của nó, quan trọng nhất là khả năng liên kết các mạng khác với nhau một cách dễ dàng. Chính điều này cùng với các chính sách mở cửa đã cho phép các mạng dùng cho nghiên cứu và thương mại kết nối được với ARPANET, thúc đẩy việc tạo ra một siêu mạng (Super Network). Năm 1980, ARPANET được đánh giá là mạng trụ cột của Internet. 22 Mốc lịch sử quan trọng của Internet được xác lập vào giữa thập niên 1980 khi tổ chức khoa học quốc gia Mỹ (National Science Foundation - NSF) thành lập mạng liên kết các trung tâm máy tính lớn với nhau gọi là NSFNET.
Nhiều doanh nghiệp đã chuyển từ ARPANET sang NSFNET và do đó sau gần 20 năm hoạt động, ARPANET không còn hiệu quả đã ngừng hoạt động vào khoảng năm 1990. Sự hình thành mạng xương sống của NSFNET và những mạng vùng khác đã tạo ra một môi trường thuận lợi cho sự phát triển của Internet. Tới năm 1995, NSFNET thu lại thành một mạng nghiên cứu còn Internet thì vẫn tiếp tục phát triển. Với khả năng kết nối mở như vậy, Internet đã trở thành một mạng lớn nhất trên thế giới, mạng của các mạng, xuất hiện trong mọi lĩnh vực thương mại, chính trị, quân sự, nghiên cứu, giáo dục, văn hoá, xã hội.
Cũng từ đó, các dịch vụ trên Internet không ngừng phát triển tạo ra cho nhân loại một thời kỳ mới: Kỷ nguyên thương mại điện tử trên Internet. Tổ chức Internet (Internet Society - viết tắt là ISOC) có trách nhiệm hoàn toàn về Internet và đó là trụ sở chính của Internet. Ý tưởng cơ bản của tổ chức này là khuyến khích sự trao đổi thông tin toàn cầu thông qua Internet. Tổ chức Internet là một ủy ban với những thành viên tự nguyện - chính những thành viên này là người quyết định hướng phát triển của Internet và cũng chính họ là người quản lý kỹ thuật và quy định các chức năng thích hợp của Internet.
Ủy ban này được gọi là Ban kỹ sư - kỹ thuật Internet (The Internet Architecture Board - IAB). Ủy ban có tổ chức các cuộc họp về nguyên tắc, quy định để tiêu chuẩn hoá và phân chia địa chỉ của những trang Web. Ngoài ra còn có Tiểu ban kỹ thuật đặc nhiệm Internet (Internet Engineering Task Force - IETF) chịu trách nhiệm về các vấn đề kỹ thuật liên quan tới Internet. Việc phân phối địa chỉ cho các máy tính kết nối vào Internet ban đầu do IOSC đảm nhiệm, sau đó, với sự phát triển mạnh mẽ của Internet công việc này được phân cấp cho các Trung tâm thông tin mạng 23 (Network Information Center - NIC) của các khu vực đảm nhiệm.
Trung tâm thông tin mạng của Châu Á Thái Bình Dương (APNIC) có trụ sở tại Tokyo, Nhật Bản. IOSC khuyến khích phân cấp cho từng quốc gia, tuy nhiên hiện nay mới chỉ có Hàn Quốc được phân cấp. Bên cạnh nó là những hệ thống vùng đã được tạo nên để liên kết những tổ chức, cá nhân với dịch vụ nòng cốt quốc gia. Một số khái niệm liên quan đến mạng Internet a) Bộ định vị tài nguyên thống nhất Bộ định vị tài nguyên thống nhất (Uniform Resource Locator - URL) được sử dụng để tham chiếu tới tài nguyên trên mạng Internet.
URL tạo nên khả năng siêu liên kết cho các website. Mỗi tài nguyên khác nhau (trang Web chẳng hạn) lưu trữ trên mạng Internet được gán bằng một địa chỉ chính xác, địa chỉ đó chính là URL. Cấu trúc của URL bao gồm: Tên của giao thức (thường là HTTP, HTTPS hoặc FTP), sau đó là địa chỉ trang Web, rồi đến vị trí của tài nguyên cần truy xuất. Ví dụ về một URL: http://www.vn/vi/default.asp URL có cấu trúc gồm 4 thành phần cơ bản: Tên giao thức kết nối://Tên miền/Thư mục/Tên tài nguyên (1) (2) (3) (4) (1) Tên giao thức kết nối (URL scheme) thường là http://, https://, ftp://, ngoài ra, nó còn có các tên khác như New, Mailto,.
Trong đó http (Hypertext Transfer Protocol) là giao thức phổ biến nhất được sử dụng cho các trang Web trên toàn thế giới. (2) Tên miền (domain) là tên miền của trang Web, có dạng chẳng hạn như www. 24 (4) Tên tài nguyên (page-name) là tên tệp tin (tài nguyên) trên trang Web. Hiện nay trên thế giới mỗi ngày có rất nhiều tên miền (Domain) mới xuất hiện.
Để có thể tìm được một tên miền một cách nhanh nhất, có thể sử dụng các công cụ tìm kiếm trên mạng Internet. Điều kiện thiết lập một URL: URL phải ít hơn 2048 ký tự để được hiển thị trên các trình duyệt web; Sử dụng " / " để ngăn cách thư mục, dấu " - " giữa các từ; Không nên dùng dấu " - " hay dấu cách; Không nên dùng tiếng việt có dấu. Nhằm mục tiêu nâng cao thứ hạng của website trong bộ máy tìm kiếm Google, việc tối ưu hóa đường dẫn trong URL sao cho thân thiện là việc cần được chú trọng. Các thành phần trong URL phải rõ ràng và mô tả đúng sản phẩm, dịch vụ.
Các ký tự trong URL cho các dịch vụ phải cách nhau bằng dấu "-". URL nên chứa từ khóa, ngắn gọn, có ý nghĩa, dễ sao chép, dễ nhớ, không chứa những từ không cần thiết, không chứa các ký tự đặc biệt, v. b) Siêu liên kết Siêu liên kết (Hyperlink), là một phần văn bản (hay hình ảnh) của một trang Web, mà khi nhấp chuột vào đó sẽ tự động thực hiện một trong các tác vụ sau đây: Chuyển đến phần khác của trang; Chuyển đến một trang Web khác trong cùng một website; Chuyển đến một trang Web khác trong website khác; Cho phép tải về một tệp tin, một ứng dụng, trình diễn một đoạn video hoặc âm thanh,. 25 Dấu hiệu nhận biết siêu liên kết: Là các dòng văn bản thường có màu hoặc có gạch chân, khi người dùng đưa con trỏ chuột đến dòng văn bản đó, con trỏ chuột sẽ biến thành hình bàn tay (hình minh hoạ) hoặc ở thanh trạng thái (Status Bar) phía dưới sẽ hiện ra địa chỉ đích (Target).
Biểu tượng của con trỏ tại vị trí siêu liên kết: c) Nhà cung cấp dịch vụ Internet Nhà cung cấp dịch vụ Internet (Internet Service Provider - ISP), là nơi người dùng đăng ký thuê bao hoặc đăng ký sử dụng nếu muốn có quyền truy xuất dịch vụ Internet. ISP sẽ giúp người dùng kết nối với Internet thông qua đường dây điện thoại hoặc đường dây thuê bao số tốc độ cao. Ở Việt Nam, danh sách các ISP bao gồm: VDC, FPT, Viettel, Netnam,. d) Trình duyệt Web Trình duyệt Web (Web Browser) là một phần mềm giúp người sử dụng có thể xem được thông tin từ các website trên Internet.
Có rất nhiều trình duyệt Web khác nhau, ví dụ như trình duyệt Web Internet Explorer (IE), Google Chrome, Opera, MyIE2, Mozilla FireBird, Avant,. trong đó phổ biến hơn cả là phần mềm trình duyệt IE, Google Chrome. Mỗi phần mềm trình duyệt đều có các phiên bản khác nhau, phiên bản mới nhất là phiên bản có nhiều tính năng hơn các phiên bản trước đó. Tuy nhiên, các chức năng sử dụng cơ bản của trình duyệt như lùi (Back), tiến (Forward), làm tươi (Refresh),.
đều giống nhau và người dùng chỉ cần biết sử dụng một loại trình duyệt là có thể dễ dàng học cách sử dụng các trình duyệt khác để có thể truy xuất và xem các thông tin trên Internet. e) Thông tin lưu trong máy của người dùng Mỗi khi người dùng truy nhập website, website sẽ ghi các thông tin người dùng truy nhập vào các tệp Cookie và lưu lại (và gọi là các thông tin lưu trong máy của người dùng). Các thông tin này được lưu trong các 26 tệp văn bản nhỏ, bao gồm các thông tin về quá trình truy xuất Web của người dùng hoặc các thông tin cá nhân mà người dùng đã từng khai báo với trang Web đó. Ưu điểm của cookie là sau khi người dùng đã đăng nhập vào một hệ thống nào đó, lần sau người dùng sẽ không phải đăng nhập lại nữa, nếu người dùng cho phép website đó sử dụng cookie để lưu trữ các thông tin này.
Ngoài ra, một số trang Web cho phép đưa người dùng đến ngay trang mà người dùng đang truy nhập dở dang từ lần trước nhờ đọc các thông tin trong cookie trong máy của người dùng. Như vậy, cookie giúp người dùng có thể truy xuất nhanh hơn, tiện dụng hơn, đúng theo các sở thích cá nhân hơn. Nhược điểm của cookie là dễ bị lợi dụng. Người khác khi sử dụng máy của một người dùng hoàn toàn có thể đăng nhập vào hệ thống với vai trò như của người dùng.
Ngoài ra, các virus hoặc các chương trình lấy trộm thông tin có thể dựa vào cookie để kiểm soát xem người dùng đã từng truy nhập vào đâu, làm gì và có những thông tin gì,. Các tệp tin cookie trong máy tính 27 f) Vùng nhớ đệm thông tin trên Internet Thông tin lấy từ Internet về máy tính của người sử dụng trước khi hiển thị ra màn hình được lưu trữ tại một vùng trong ổ cứng máy tính của người dùng. Vùng lưu trữ này gọi là vùng nhớ đệm thông tin trên Internet (Internet Cache). Do vậy, nếu đã từng mở một trang Web nào đó thì khi người dùng quay lại website đó, các thông tin sẽ được tải ngay từ vùng nhớ đệm này và chỉ cập nhật những phần thay đổi.
Ưu điểm của vùng nhớ đệm là làm cho tốc độ truy xuất rất nhanh (nếu người dùng đã từng vào một trang, nhất là trang có nhiều ảnh và sau này có nhu cầu truy xuất lại) do không phải tải toàn bộ thông tin từ Internet.