TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIẾN TRÚC TPHCM KHOA XÂY DỰNG BÀI THU HOẠCH MÔN CẤU TẠO KIẾN TRÚC GIẢNG VIÊN: DƯƠNG TRỌNG BÌNH SINH VIÊN: TRỊNH CAO HUY MSSV: 19520100107 LỚP: XD 19 LỚP HP: 2111530001305 TPHCM 1/2021 MÓNG I) QUY TRÌNH ÉP CỌC BẰNG ROBOT Bước 1: Tập kết cọc bê tông, kiểm tra máy ép cọc, chuẩn bị sẵn sàng các dụng cụ cần thiết để chuẩn bị ép cọc bê tông Bước 2: Cẩu cọc từ vị trí tập kết đưa vào máy ép Bước 3: Điều chỉnh mũi cọc bê tông vào đúng vị trí tim đã xác định, chỉnh cọc theo hướng thẳng đứng. Hình 1: Cẩu cọc vào dàn robot ép Bước 4: Tiến hành khởi động máy ép và bắt đầu hành trình ép đầu tiên. Bước 5: Tiếp tục ép cho đến khi hết đoạn cọc mũi đầu tiên, đưa cọc thứ 2 vào vị trí, chỉnh hai đầu cọc khớp nhau và tiến hành hàn nối. 1 Hình 2: Tiến hành ép + Tiếp cục hành trình ép cho đến khi đạt độ sâu và lực ép thiết kế cho phép - Việc dừng ép cọc được áp dụng trong các trường hợp sau đây: + Mũi cọc đạt độ sâu thiết kế và lực ép đầu cọc không nhỏ hơn Pmin.
+ Nếu mũi cọc chưa đạt độ sâu thiết kế và lực ép cọc nhỏ hơn Pmin thì việc ép cọc vẫn tiếp tục cho đến khi lực ép đạt Pmin - Đơn vị thi công sẽ thông báo với tư vấn giám sát, chủ đầu tư, tư vấ thiết kế khi có sự khác biệt của giá trị lực ép và chiều sâu ép cọc để có hướng giải quyết, khi cần thiết làm khảo sát đất bổ sung, làm thí nghiệm kiểm tra để có cơ sở kết luậ xử lý. - Cọc nghiêng quá quy định ( lớn hơn 1%), cọc ép dở dang do gặp dị vật ổ cát, vỉa sét cứng bất thường, cọc bị vỡ phải xử lý bằng các ép bổ sung cọc mới. - Khi lực ép vừa đạt trị số thiết kế mà cọc không xuống được nữa, trong khi đó lực ép tác động lên cọc tiếp tục tăng vượt quá lực ép lớn nhất (Pep)max thì trước khi dừng ép phải dùng van giữ lực duy trì (Pep)max thời gian 5 phút. - Trường hợp máy ép không có van giữ thì phải ép nháy từ ba đến năm lần với lực ép (Pep)max.
II) CÁC SỰ CỐ KHI THI CÔNG ÉP CỌC BÊ TÔNG VÀ PHƯƠNG ÁN XỬ LÝ 2 + Do cấu tạo địa chất dưới nền đất không đồng nhất nên thi công ép cọc có thể xảy ra các sự cố sau: - Khi ép đến độ sâu nào đó chưa đến độ sâu thiết kế nhưng áp lực đã đạt, khi đó phải giảm bớt tốc độ, tăng lực ép lên từ từ nhưng không lớn hơn Pép max. Nếu cọc vẫn không xuống thì ngừng ép và báo cáo với bên thiết kế để kiểm tra xử lý. Nếu nguyên nhân là do lớp cát hạt trung bị ép quá chặt thì dừng ép cọc lại một thời gian chờ cho độ chặt lớp đất giảm dần rồi ép tiếp. Trường hợp gặp vật cản thì khoan phá, khoan dẫn, tạo lỗ.
Do đặc điểm nền đất khác nhau nên dễ xảy ra các sự cố khi thi công ép cọc + Khi ép cọc bê tông sẽ gây một số ít tác hại có thể ảnh hưởng tới những căn hộ liền kề vì vậy trong trường hợp này chúng ta phải khoan dẫn trước khi ép cọc bê tông với lý do sau: Nền móng nhà liền kề yếu, do xây dựng lâu năm. Tác dụng của công tác khoan dẫn làm giảm sự đùn đất có thể gây lún, nứt, phồng nền nhà bên. + Khi ép đến độ sâu thiết kế mà áp lực đầu cọc vẫn chưa đạt đến yêu cầu theo tính toán. 3 - Sự cố này xảy ra thường do khi đó đầu cọc vẫn chưa đến lớp cát hạt trung, hoặc gặp các thấu kính, đất yếu, ta ngừng ép cọc và báo với bên thiết kế để kiểm tra, xác định nguyên nhân và tìm biện pháp xử lý.
Trong trường hợp này, phương án đưa ra là nối thêm cọc khi đã kiểm tra và xác định rõ lớp đất bên dưới là lớp đất yếu sau đó ép cho đến khi đạt áp lực thiết kế. + Nếu địa chất có các lớp cát (hạt mịn, hạt thô, hạt trung) khá dày thì phương pháp ép cọc bình thường sẽ không khả thi: - Cọc không thể xuyên qua vì khi ép, sẽ xuất hiện độ chối giả (với cát thì độ chối giả nhỏ hơn so với độ chối thiết kế), các hạt cát dưới mũi cọc, xung quanh cọc sẽ nén chặt lại làm tăng lực ma sát xung quanh cọc, tăng sức chống mũi (tăng sức chịu tải của đất nền), sức chịu tải đất nên tăng tỷ lệ thuận với lực ép, càng tăng lực ép thì càng khó ép khi lớp cát quá dày. - Để tránh hiện tượng trên, cần phải làm giảm sự xuất hiện độ chối giả bằng biện pháp ép rung, khoan dẫn trước khi ép, ép có sối nước. Phương pháp này sẽ tạm thời phá vỡ kết cấu đất trong quá trình vừa ép vừa đưa dẫn cọc xuống.
Trong đó, phương pháp khoan dẫn dẫn hiện nay được thực hiện phổ biến vì tính khả thi của nó. Nguyên tắc của phương pháp khoan dẫn: Trước khi ép, tại vị trí tâm cọc thiết kế, ta khoan trước một lỗ có đường kính bằng (1/8 – 1/10) cạnh cọc, chiều sâu lỗ tùy theo lớp địa chất bên dưới, sao cho có thể thi công được, thành lỗ được giữ bằng dung dịch bentonite. Sau đó,ta tiến hành ép cọc. Biện pháp xử lý trong trường hợp này là nối thêm cọc khi đã kiểm tra và xác định rõ lớp đất bên dưới là lớp đất yếu sau đó ép cho đến khi đạt áp lực thiết kế.
III) Phân tích kết cấu của móng băng - Để có thể nắm được chi tiết hơn cũng như là góc nhìn khái quát hơn về loại móng nhà này để đưa ra sự lựa chọn phù hợp nhất thì bạn có thể tham khảo về kết cấu và cách sử dụng của chúng dưới đây. a) Cấu tạo của móng băng là gì? 4 + Nhìn chung dù là móng băng 1 phương hay móng băng 2 phương thì đều sẽ có cấu tạo gồm các bộ phận như lớp bê tông lót mỏng, bản móng chạt liên tục để liên kết chúng thành một khối dầm móng. Theo đó các bộ phận này sẽ có thông số kỹ thuật như sau: - Lớp bê tông lót dày 10cm - Kích thước một bản móng phổ thông sẽ có dài là 90 – 120cm và rộng 35cm. - Thép bản móng phổ thông là: Φ12a150.
- Thép dầm dọc móng phổ thông là 6Φ(18-22) và thép đai là Φ8a150. → Lưu ý: Các thông số trên đây chỉ là các kích thước tiêu chuẩn cơ bản, còn trong thực tế thi công xây dựng các kỹ sư có thể điều chỉnh linh hoạt sao cho phù hợp với quy mô và điều kiện địa hình. b) Cách sử dụng móng băng 5 - Các sử dụng của móng băng trong xây dựng là gì? Đối với những công trình được xây dựng trên các khu đất có địa chất không ổn định và khó sử dụng được các loại móng khắc thì móng băng chính là một phương án tối ưu bởi việc dễ dàng thi công. Trong đó móng băng dưới cột thường được dùng khi công trình có tải trọng quá lớn mà các loại móng khác không đủ khả năng để chịu lực.
Với trường hợp này, móng băng giao thoa sẽ giúp cân bằng độ lún theo hai hướng làm tăng sức chịu tải của móng và giảm áp lực xuống nền đất. Và việc tính toán móng băng dưới cột có thể làm tương tự như việc tính toán dầm trên nền đàn hồi. c) Tìm hiểu về ưu nhược điểm của móng băng là gì? 6 + Trên thực tế để quyết định có nên sử dụng móng băng trong quá trình xây dựng ngôi nhà của mình không thì bạn có thể tham khảo trực tiếp ưu – nhược điểm của chúng dưới đây.1) Ưu điểm của móng băng là gì? - Móng băng giúp truyền tải đều trọng tải của công trình xuống từng cọc bê tông phía dưới. - Đây là giải pháp hoàn hảo cho những công trình không thể sử dụng móng đơn.
- Loại móng này có khả năng lún đều nên rất phù hợp với các công trình nhà phố. - Có thể sử dụng trong các trường hợp nền đất, điều kiện địa hình xấu và phù hợp với nhiều quy mô công trình khác nhau.2) Nhược điểm của móng băng là gì? - Do chiều sâu trộn của móng nông và nhỏ nên độ ổn định về lật và trượt của móng hơi kém. - Trong thi công ngoài lớp đá gốc gần mặt đất thì các lớp đất phía trên thường có sức chịu tải kém. IV) Chống thấm móng là gì? 7 - Chân tường bị ngâm nước gây long lơ vữa, sơn, dần dần rộp lên, lâu ngày rơi vỡ cả mảng vữa dẫn đến nhà luôn trong tình trạng âm tháp, khó chịu đặc biệt là hiện tượng này thường xảy ra trong khu vực có nước ngầm hay vùng đất trũng.
- Nước ngâm chân tường thường phải được giải quyết từ móng. Việc chống thấm cho móng cần phải làm rất cẩn thận, nhất là trong những khu vực chịu ảnh hưởng trực tiếp của mạch nước ngầm. Thực tế hiện nay, đa phần công trình đều sử dụng các kết cấu chịu lực là các khối xây hoặc khối đúc tại chỗ từ vật liệu thiên nhiên và nhân tạo, nên nguy cơ bị thấm là rất lớn. +Một số biện pháp chống thấm móng Dùng vữa xi măng mác cao đánh màu - Lớp chống thấm phổ biến, dễ làm và phổ biến nhất tuy nhiên hiệu quả của nó cũng phụ thuộc vào chất lượng, số lượng vật liệu sử dụng, chất lượng thi công, điều kiện môi trường và thời gian sử dụng.
Phương pháp này có ưu điểm là dễ thi công, rẻ tiền, dễ thực hiện trong mọi điều kiện. - Tuy nhiên đây chưa phải là phương pháp chống thấm tuyệt đối vì lớp xi măng có độ co ngót, dễ nứt và biến dạng trong môi trường nhiệt độ thay đổi khắc nghiệt, lại bị ăn mòn hóa học. Nhiều khi người ta vẫn phải dùng các lớp chống thấm hỗ trợ thêm như ốp lát gạch men kính (đối với các bể chứa nước, bể bơi…) Chống thấm nền nhà bằng vữa mác xi Dùng bitum và bê tông trộn keo tổng hợp 8 - Dùng bitum và các chế phẩm khác, cũng có thể trát vữa xi măng cát mịn dày 20 – 25 mm phủ ngoài bề mặt bê tông hoặc quét bitum nóng. Dùng bê tông có trộn keo tổng hợp là một biện pháp hiệu quả nhưng chi phí cao hơn.