Chương 1: Một số vấn đề lý luận về Hợp đồng vay tài sản. Chương 2: Quy định về Hợp đồng vay tài sản trong BLDS năm 2015. Chương 3: Thực tiễn áp dụng pháp luật và một số giải pháp nhằm hoàn thiện quy định của BLDS năm 2015 về Hợp đồng vay tài sản. 5 CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN 1.
Khái niệm Hợp đồng vay tài sản 1. Định nghĩa Hợp đồng vay tài sản Dưới góc độ xã hội, theo định nghĩa của Từ điển Tiếng Việt, từ “vay” được hiểu là nhận tiền hay vật gì của người khác để chi dùng trước với điều kiện sẽ trả tương đương hoặc có thêm phần lãi(1). Như vậy, dưới góc độ là quan hệ xã hội, quan hệ vay tài sản phải có ít nhất hai chủ thể tham gia, được xác lập trên cơ sở thỏa thuận giữa các bên, đối tượng của quan hệ là tiền hoặc vật bất kỳ. Qua tiến trình phát triển của xã hội đã chứng minh sự vận động và phát triển của quan hệ vay tài sản luôn chịu sự tác động và chi phối bởi các hình thái kinh tế - xã hội.
Ở hình thái kinh tế - xã hội chiếm hữu nô lệ và hình thái kinh tế - xã hội phong kiến, quan hệ vay tài sản tồn tại dưới hình thức cho vay nặng lãi. Đây là thời kỳ kinh tế kém phát triển, phụ thuộc nhiều vào điều kiện thiên nhiên, tác động tới sự phân chia giai cấp. Các chủ thể tham gia quan hệ chủ yếu hai tầng lớp là giai cấp thống trị - người cho vay và giai cấp bị trị - người đi vay. Dưới thời này, quan hệ tài sản không được xác lập trên cơ sở sự thỏa thuận.
Người vay bị phụ thuộc hoàn toàn vào ý chí và các điều kiện của người cho vay. Dưới hình thái kinh tế xã hội tư bản chủ nghĩa, do sự phát triển của nền công nghiệp với nhu cầu số lượng vốn lớn nên quan hệ vay tài sản với mức lãi suất cao bị đẩy lùi và được thay thế bởi quan hệ vay tài sản với lãi suất thấp. Tuy nhiên, việc cho vay nặng lãi không bị thủ tiêu hoàn toàn, nó vẫn tồn tại bởi người đi vay không vì mục đích sản xuất, kinh doanh mà còn nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt hàng ngày. Từ khi xã hội phân chia giai cấp, Nhà nước xuất hiện điều chỉnh các quan hệ xã hội theo ý chí của giai cấp thống trị.
Xuất phát từ tính chất phổ biến và phức tạp của quan hệ vay tài sản nên Nhà nước đã tác động và điều chỉnh quan hệ này bằng các quy định pháp luật. Từ đó quan hệ vay tài sản không chỉ là quan hệ xã hội mà được nâng lên thành quan hệ pháp luật và chế định Hợp đồng vay tài sản ra đời. Từ thời La Mã cổ đại, Hợp đồng vay tài sản đã trở thành một trong những Hợp đồng thông dụng nhất của pháp luật về Hợp đồng. Ở pháp luật các nước trên thế giới cũng rất chú trọng tới việc điều chỉnh quan hệ pháp luật này.
Dưới góc độ pháp luật, khái niệm Hợp đồng vay tài sản được nhìn ở nhiều phương diện khác nhau. Về khách quan, Hợp đồng vay tài sản được hiểu là tập hợp (1) Trung tâm Từ điển học, Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, 2003. 6 các quy phạm pháp luật do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành, nhằm điều chỉnh các quan hệ vay tài sản phát sinh giữa các chủ thể với nhau trong giao dịch dân sự. Về phương diện chủ quan, Hợp đồng vay tài sản là một giao dịch dân sự mà trong đó các bên tự trao đổi ý chí với nhau nhằm đi đến sự thỏa thuận để cùng nhau làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ dân sự nhất định.Mác đã nói: Tự nó, hàng hóa không thể đi đến thị trường và trao đổi với nhau được.
Muốn cho những vật đó trao đổi với nhau thì những người giữ chúng phải đối xử với nhau như những người mà ý chí nằm trong các vật đó(1). Chính vì quan hệ vay tài sản được hình thành từ những hành vi có ý chí của các chủ thể, cho nên yếu tố thỏa thuận thông qua việc bày tỏ và thống nhất ý chí giữa các bên là nền tảng đầu tiên hình thành nên một quan hệ Hợp đồng dân sự. Vì vậy, để hiểu được bản chất của Hợp đồng vay tài sản cần nghiên cứu khái niệm Hợp đồng vay tài sản ở phương diện chủ quan. Hợp đồng vay tài sản trước hết là một giao dịch dân sự, vì vậy khi giao kết bất cứ một Hợp đồng dân sự nào, các bên đều phải tuân thủ nguyên tắc cơ bản cảu quan hệ dân sự, đó là nguyên tắc “tự nguyện cam kết, thỏa thuận”(2) và tuân thủ các điều kiện có hiệu lực của một giao dịch dân sự nói chung được quy định tại Điều 117 BLDS năm 2015.
Xuất phát từ nguyên tắc này mà khái niệm Hợp đồng vay tài sản được hình thành trên cơ sở của “sự thỏa thuận”. Thỏa thuận ở đây là sự thảo thuận giữa các chủ thể trong Hợp đồng, đó là bên vay và bên cho vay. Hợp đồng có được xác lập hay không là do sự thỏa thuận giữa các bên, tức phải có sự thống nhất ý chí giữa các bên trong việc làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ nhất định. Bởi vì ý chí là khả năng tự xác định mục đích cho hành động và hướng hoạt động của mình tới việc đạt được mục đích đó.
Tuy nhiên, sự thỏa thuận phải nằm trong hành lang quy định của pháp luật và chuẩn mực xã hội. Nội dung của sự thỏa thuận không được trái pháp luật và đạo đức xã hội. Ngoài ra, sự thỏa thuận còn phải được hình thành trên cơ sở của sự tự nguyện. Nếu một trong các bên bị lừa dối, đe dọa, ép buộc khi giao kết Hợp đồng thì Hợp đồng đó sẽ không được Nhà nước công nhận và bảo hộ, giao dịch đó sẽ vô hiệu.
Như vậy, Hợp đồng vay tài sản trước tiên phải là sự thống nhất giữa ý chí và sự thể hiện ý chí của các chủ thể tham gia quan hệ. Hợp đồng vay tài sản được quy định tại BLDS năm 2015 như sau: “Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên (1) C.Mác, Tư bản, quyển 1, tập 1, Nxb Sự Thật, Hà Nội, 1973. (2) Quốc hội, Bộ luật Dân sự, Hà Nội, 2015, Điều 3. 7 vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định”(1).
Hiện nay, hầu hết tất cả mọi người đều cho rằng quy định về Hợp đồng vay tài sản tại BLDS năm 2015 ở trên là định nghĩa về Hợp đồng vay tài sản. Tuy nhiên, qua quá trình nghiên cứu về Hợp đồng vay tài sản, tác giả thấy rằng quy định về Hợp đồng vay tài sản tại BLDS năm 2015 chưa thể coi là định nghĩa về Hợp đồng vay tài sản bởi nó mới chỉ nhắc đến việc chuyển giao tài sản vay nhưng lại không nói về việc chuyển giao quyền sở hữu đối với tài sản vay. Tương tự như vậy, quy định này không đề cập tới việc trả lãi trong khoảng thời gian thỏa thuận dẫn tới có thể một số người sẽ hiểu sai về việc trả lãi đối với tài sản vay. Từ những bất cập nêu trên về định nghĩa của Hợp đồng vay tài sản, tác giả mạnh dạn xây dựng và đề cập một định nghĩa mới về Hợp đồng vay tài sản như sau: Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay chuyển giao cho bên vay tài sản và quyền sở hữu đối với tài sản vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại đã vay theo đúng số lượng, chất lượng và lãi suất tương ứng với thời hạn vay theo thỏa thuận.
Đặc điểm của Hợp đồng vay tài sản Hợp đồng vay tài sản là một dạng của Hợp đồng dân sự, do vậy bên cạnh những đặc điểm chung của Hợp đồng dân sự thì Hợp đồng vay tài sản cũng có những đặc điểm riêng của nó. Nghiên cứu đặc điểm riêng của Hợp đồng vay tài sản giúp ta phân biệt Hợp đồng vay tài sản với các loại Hợp đồng dân sự khác. Thứ nhất, Hợp đồng vay tài sản là một Hợp đồng ưng thuận. Dựa vào thời điểm phát sinh hiệu lực, thì Hợp đồng dân sự được phân thành hai loại: Hợp đồng ưng thuận và Hợp đồng thực tế.
Hợp đồng ưng thuận là những Hợp đồng mà theo quy định của pháp luật, quyền và nghĩa vụ của các bên phát sinh ngay sau khi các bên đã thỏa thuận xong nội dung cơ bản của Hợp đồng; còn Hợp đồng thực tế là những Hợp đồng mà sau khi thỏa thuận, hiệu lực của nó chỉ phát sinh tại thời điểm khi các bên đã chuyển giao cho nhau đối tượng của Hợp đồng. Việc xác định quyền và nghĩa vụ dân sự đối với nhau giữa các chủ thể trong Hợp đồng vay tài sản phải được bắt đầu từ khi Hợp đồng có hiệu lực. Theo BLDS năm 2015 quy định: “Hợp đồng được giao kết hợp pháp có hiệu lực từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật liên quan có quy định khác”(2). Như vậy, từ thời điểm Hợp đồng giao kết đã phát sinh hiệu lực Hợp đồng vay tài sản, và từ thời điểm này nếu bên cho vay không thực hiện nghĩa vụ giao tiền hoặc (1) Điều 463.
8 vật cùng loại thì bên vay có quyền kiện dưới góc độ là vi phạm nghĩa vụ được cam kết trong Hợp đồng vay tài sản. Do vậy, Hợp đồng vay tài sản là Hợp đồng ưng thuận. Thứ hai, Hợp đồng vay tài sản là một Hợp đồng đơn vụ hoặc Hợp đồng song vụ. Cơ sở để xác định một Hợp đồng có tính chất song vụ hay đơn vụ là mối quan hệ giữa quyền và nghĩa vụ của các bên tại thời điểm Hợp đồng có hiệu lực.
Hợp đồng vay tài sản là Hợp đồng song vụ khi thời điểm Hợp đồng phát sinh hiệu lức cũng đồng thời phát sinh quyền và nghĩa vụ của các chủ thể. Bên cho vay có nghĩa vụ giao tài sản cho bên vay, đầy đủ đúng chất lượng và số lượng vào thời điểm và địa điểm đã thỏa thuận.