Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong nền kinh tế thị trường, quan hệ chu chuyển vốn giữa các chủ thể xã hội luôn diễn ra liên tục nhằm giải quyết tình trạng mất cân đối giữa bộ phận có nguồn vốn nhàn rỗi và bộ phận có nhu cầu sử dụng vốn nhưng không thể tự thỏa mãn. Phương thức điều hòa vốn này được xác lập chủ yếu thông qua hợp đồng vay tài sản. Hợp đồng vay tài sản vừa là phương tiện pháp lý đáp ứng nhu cầu vốn của các chủ thể, vừa là công cụ bảo đảm việc tôn trọng và thực hiện các cam kết, thúc đẩy lưu thông nguồn vốn trong xã hội.

Trải qua các giai đoạn lập pháp, chế định hợp đồng vay tài sản đã được quy định trong Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 1995 và BLDS năm 2005. Tuy nhiên, trước sự phát triển kinh tế - xã hội, nhiều quy định của các bộ luật trước đây đã bộc lộ bất cập, chưa phát huy tối đa hiệu quả điều chỉnh. Khi BLDS năm 2015 được Quốc hội thông qua và chính thức có hiệu lực từ ngày 01/01/2017, việc phân tích, đánh giá toàn diện những điểm mới cũng như hạn chế còn tồn tại của chế định này trở nên cấp thiết. Tác giả Vũ Thị Hồng Minh đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Luật kinh tế tại Khoa Luật, Viện Đại học Mở Hà Nội (năm 2018) dưới sự hướng dẫn của ThS. Nguyễn Hoàng Long nhằm làm rõ các vấn đề lý luận và thực tiễn thi hành.

Mục đích nghiên cứu của khóa luận gồm:

  1. Góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận và thực tiễn về hợp đồng vay tài sản theo quy định của BLDS năm 2015.
  2. Đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật dân sự về hợp đồng vay tài sản.

Để đạt được mục đích trên, đề tài xác định hai nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Nghiên cứu cơ sở lý luận của hợp đồng vay tài sản, làm rõ chức năng chủ yếu của hợp đồng vay tài sản trong đời sống xã hội.
  2. Phân tích, đánh giá việc thực hiện các quy định của pháp luật về hợp đồng vay tài sản trong thực tiễn; từ đó đề xuất phương hướng hoàn thiện và áp dụng thống nhất pháp luật của chế định này.

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là hệ thống các quy định của pháp luật dân sự Việt Nam về hợp đồng vay tài sản cùng thực tiễn áp dụng các quy định đó tại Tòa án. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào các vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng BLDS năm 2015 trên lãnh thổ Việt Nam từ thời điểm bộ luật có hiệu lực đến năm 2018.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Cơ sở lý luận của khóa luận dựa trên phép duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về Nhà nước và pháp luật trong các văn kiện Đại hội Đảng, kết hợp luận điểm của C. Mác về sự vận động của hàng hóa và ý chí chủ thể trong giao dịch.

Khung pháp lý được tác giả sử dụng làm căn cứ đối chiếu bao gồm:

  • BLDS năm 2015 (các điều khoản chung về giao dịch dân sự, chủ thể, tài sản và các điều khoản cụ thể từ Điều 463 đến Điều 468).
  • Các văn bản pháp luật trước đây: BLDS năm 1995, BLDS năm 2005, Pháp lệnh Hợp đồng dân sự năm 1991.
  • Các văn bản pháp luật chuyên ngành: Luật Thương mại năm 1997, Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, Pháp lệnh Ngoại hối năm 2013, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
  • Lịch sử pháp luật: Lê triều hình luật, Hoàng Việt luật lệ, Bộ Dân luật giản yếu Nam Kỳ năm 1883, Bộ Dân luật Bắc Kỳ năm 1931 và Bộ Hoàng Việt Trung Kỳ hộ luật năm 1936.

Khóa luận kế thừa kết quả từ các giáo trình chuyên khảo của Trường Đại học Luật Hà Nội, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh; công trình nghiên cứu của TS. Nguyễn Ngọc Điện, Luật gia Nguyễn Ngọc Điệp; bài viết khoa học của các tác giả Trần Văn Biên, Nguyễn Minh Oanh, Dương Quốc Thành; cùng các luận văn thạc sĩ của Bùi Kim Hiếu, Nguyễn Ngọc Duy, Nguyễn Tiến Thành.

Phương pháp nghiên cứu thực tế gồm:

  • Phương pháp phân tích, tổng hợp: Làm sáng tỏ các khái niệm, bản chất pháp lý, đặc điểm và phân loại hợp đồng vay tài sản.
  • Phương pháp điều tra, bình luận: Khảo sát thực tiễn áp dụng pháp luật, phân tích và bình luận các bản án giải quyết tranh chấp cụ thể tại Tòa án nhân dân cấp huyện và thành phố.
  • Phương pháp phân tích đánh giá: So sánh các quy định pháp luật qua từng thời kỳ, chỉ ra các kẽ hở pháp lý và đề xuất giải pháp sửa đổi.

Nguồn dữ liệu của đề tài gồm các văn bản quy phạm pháp luật, giáo trình, bài báo khoa học và dữ liệu bản án thực tế được công bố trên cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân (congbobanan.vn).

Nội dung chính theo từng chương

CHƯƠNG 1: Một số vấn đề lý luận về Hợp đồng vay tài sản

Chương 1 hệ thống hóa khái niệm, đặc điểm pháp lý, phân loại và tiến trình lập pháp về hợp đồng vay tài sản. Khái niệm vay trong xã hội bắt đầu từ quan hệ trao đổi tài sản và chịu sự chi phối của các hình thái kinh tế - xã hội từ chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản đến xã hội chủ nghĩa. Dưới góc độ pháp lý, hợp đồng vay tài sản là sự thống nhất ý chí giữa các chủ thể nhằm làm phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự. Tác giả chỉ ra rằng định nghĩa tại Điều 463 BLDS năm 2015 chưa hoàn thiện vì thiếu quy định về việc "chuyển giao quyền sở hữu" đối với tài sản vay và khoảng thời gian trả lãi; từ đó đề xuất định nghĩa mới bổ sung hai yếu tố này.

Về đặc điểm pháp lý, hợp đồng vay tài sản mang 4 đặc trưng:

  1. Là hợp đồng ưng thuận: Quyền và nghĩa vụ phát sinh từ thời điểm giao kết hợp pháp, không phụ thuộc vào thời điểm giao tài sản.
  2. Là hợp đồng đơn vụ hoặc song vụ: Trở thành hợp đồng song vụ khi có hiệu lực đồng thời phát sinh quyền và nghĩa vụ của cả hai bên; mang tính đơn vụ nếu coi là hợp đồng thực tế tính từ thời điểm chuyển giao tài sản.
  3. Là hợp đồng có tính đền bù hoặc không có đền bù: Có đền bù khi có thỏa thuận trả lãi (điển hình trong tín dụng ngân hàng); không có đền bù khi không tính lãi (mang tính tương trợ xã hội).
  4. Là hợp đồng có mục đích chuyển quyền sở hữu: Bên vay trở thành chủ sở hữu tài sản vay từ thời điểm nhận tài sản, phân biệt rõ với hợp đồng mượn hoặc thuê tài sản.

Về phân loại, hợp đồng được chia theo thời hạn (có thời hạn và không thời hạn) và theo lãi suất (có lãi và không có lãi). Chương 1 cũng trình bày lược sử quy định qua 4 giai đoạn: thời kỳ phong kiến (văn tự vay mượn trong Luật Hồng Đức, Hoàng Việt luật lệ); thời kỳ Pháp thuộc (Bộ Dân luật giản yếu Nam Kỳ 1883 khống chế lãi suất 12%/năm, Bộ Dân luật Bắc Kỳ 1931, Bộ Dân luật Trung Kỳ 1936); giai đoạn 1945 đến trước 01/7/1996 (Sắc lệnh 90/SL, Pháp lệnh Hợp đồng dân sự 1991); và giai đoạn từ sau 01/7/1996 đến trước 01/01/2017 (BLDS 1995, BLDS 2005).

Tiêu chí so sánh BLDS năm 2005 (Điều 476, 474) BLDS năm 2015 (Điều 468)
Trần lãi suất theo thỏa thuận Không vượt quá 150% lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố Không vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay; phần vượt quá bị vô hiệu
Thẩm quyền điều chỉnh trần lãi suất Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh thông qua công bố lãi suất cơ bản Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định theo đề xuất của Chính phủ
Lãi suất khi có thỏa thuận trả lãi nhưng không rõ mức lãi suất Áp dụng lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng thời hạn Xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn (tương đương 10%/năm tại thời điểm trả nợ)
Lãi suất chậm trả khi cho vay không có lãi Tính theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố Áp dụng mức lãi suất 10%/năm (50% của mức trần 20%/năm)

CHƯƠNG 2: Quy định về Hợp đồng vay tài sản trong BLDS 2015

Chương này đi sâu phân tích các chế định cụ thể trong BLDS năm 2015:

  • Chủ thể: Gồm cá nhân (xác định theo năng lực pháp luật bình đẳng và năng lực hành vi dân sự dựa trên độ tuổi từ Điều 19 đến 24; người nước ngoài tuân thủ Điều 674), pháp nhân (đáp ứng 4 điều kiện Điều 74, tham gia qua người đại diện theo pháp luật hoặc theo ủy quyền theo Điều 85), và các chủ thể khác gồm hộ gia đình, tổ hợp tác (Điều 101 đến 104, tham gia qua đại diện ủy quyền).
  • Đối tượng: Căn cứ Điều 105, đối tượng gồm tiền, vật, giấy tờ có giá và quyền tài sản. Tiền và vật cùng loại là phổ biến nhất. Văn bản nhấn mạnh ngoại tệ là tài sản hạn chế lưu thông theo Pháp lệnh Ngoại hối 2013, cá nhân không được tự do vay mượn bằng ngoại tệ trừ khi qua tổ chức tín dụng được phép. Đối với vật vay, phải là vật cùng loại, hiện hữu hoặc hình thành trong tương lai, xác định được số lượng, chất lượng và thuộc quyền sở hữu của bên cho vay.
  • Thời điểm có hiệu lực: Xác định từ thời điểm giao kết (bằng lời nói khi thỏa thuận xong nội dung cơ bản; bằng văn bản khi bên sau cùng ký).
  • Nội dung hợp đồng và cách tính lãi: Bên vay có nghĩa vụ trả đủ nợ gốc và lãi theo thỏa thuận. BLDS năm 2015 áp dụng mức trần lãi suất tĩnh 20%/năm (khoảng 1,7%/tháng). Trường hợp quá hạn, bên vay phải trả lãi quá hạn bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng tính trên nợ gốc quá hạn (Điều 466 khoản 5 điểm b). Trường hợp chậm trả tiền lãi trong hạn, áp dụng mức lãi suất chậm trả là 10%/năm (Điều 466 khoản 5 điểm a). Tác giả phân tích ví dụ: Khoản vay 100.000.000 đồng, lãi suất 1%/tháng, kỳ hạn 12 tháng (01/01/2017 đến 31/12/2017), quá hạn 6 tháng (đến 01/7/2018 mới trả) sẽ phát sinh đồng thời tiền gốc, lãi trong hạn, lãi chậm trả lãi và lãi nợ gốc quá hạn.

CHƯƠNG 3: Thực tiễn áp dụng pháp luật và một số giải pháp nhằm hoàn thiện quy định của BLDS năm 2015 về Hợp đồng vay tài sản

Tác giả nghiên cứu thực tiễn qua các vụ án dân sự cụ thể:

  1. Bản án số 20/2018/DS-ST ngày 03/04/2018 của TAND huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long: Vụ tranh chấp hợp đồng vay giữa nguyên đơn Huỳnh Tấn P, Lê Thị H và bị đơn Nguyễn Huy T, Huỳnh Thị Tuyết V. Hợp đồng thỏa thuận lãi suất 6%/tháng đối với khoản vay gốc 100.000.000 đồng (đã trả bớt nợ gốc còn 93.800.000 đồng). Tòa án đã bác bỏ mức lãi 6%/tháng trái luật, chấp nhận mức lãi suất nguyên đơn yêu cầu là 1,125%/tháng (trong giới hạn 20%/năm), buộc cả hai vợ chồng liên đới chịu trách nhiệm số tiền gốc 93.800.000 đồng và lãi 11.373.250 đồng theo Luật Hôn nhân và Gia đình 2014.
  2. Bản án số 27/2018/DS-ST ngày 03/5/2018 của TAND thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh: Tranh chấp giữa Ngân hàng ACB và bà Đào Thị Th về hợp đồng tín dụng 120.000.000 đồng (thời hạn 84 tháng, lãi trong hạn 12,5%/năm, lãi quá hạn 150%), bảo đảm bằng thế chấp quyền sử dụng đất 65,7 m2. Tòa án tuyên buộc bị đơn trả tổng cộng 109.839.158 đồng (nợ gốc 93.055.000 đồng, tiền lãi 16.784.158 đồng) và tuyên quyền xử lý tài sản thế chấp theo Điều 299, 307 BLDS năm 2015.

Chương 3 chỉ ra 4 vướng mắc lớn trong thực tiễn:

  • Hiện tượng hợp đồng vay tài sản bị biến tướng thành hợp đồng đặt cọc hoặc mua bán nhà đất nhằm che giấu giao dịch vay lãi.
  • Khó khăn trong việc xác định nợ chung hay nợ riêng của vợ chồng khi một bên đứng ra vay tiền do BLDS năm 2015 chưa có điều khoản chuyên biệt về nghĩa vụ liên đới.
  • Các vướng mắc trong hợp đồng vay có bảo đảm của người thứ ba (xử lý khi người vay chết không để lại di sản, kiện người bảo lãnh hoặc người nhận trả nợ thay).
  • Vấn đề ranh giới hình sự hóa quan hệ dân sự đối với tội Lợi dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Nguyên nhân gồm: hệ thống văn bản hướng dẫn thi hành chưa kịp thời, nhận thức người dân hạn chế (nguyên nhân khách quan); năng lực chuyên môn của Thẩm phán cấp huyện phải xử lý nhiều loại án và hạn chế nghiệp vụ của Hội thẩm nhân dân do thời gian tập huấn ngắn (nguyên nhân chủ quan).

Kết quả và đóng góp

Về mặt lý luận, khóa luận chỉ rõ điểm bất hợp lý trong định nghĩa Điều 463 BLDS năm 2015 và xây dựng lại khái niệm chuẩn xác hơn về bản chất chuyển giao quyền sở hữu tài sản vay. Tác giả đã luận giải rõ tính chất hợp đồng ưng thuận và cơ chế áp đặt mức trần lãi suất cố định 20%/năm thay thế cho cơ chế trần lãi suất linh hoạt theo lãi suất cơ bản của BLDS năm 2005.

Về mặt thực tiễn, công trình trích dẫn và phân tích trực tiếp số liệu từ hai bản án thực tế năm 2018 (Bản án 20/2018/DS-ST tại Vĩnh Long và Bản án 27/2018/DS-ST tại Tây Ninh), phản ánh đúng cách thức Tòa án áp dụng trần lãi suất mới và xử lý tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất.

Tác giả đề xuất 4 nhóm giải pháp hoàn thiện BLDS năm 2015:

  1. Quy định rõ ràng địa vị pháp lý của ngoại tệ trong Điều 463 để giải quyết mâu thuẫn giữa BLDS và Pháp lệnh Ngoại hối; tách bạch vàng, kim khí quý, đá quý khỏi khái niệm vật thông thường để có căn cứ xử lý lãi suất vay bằng vàng.
  2. Quy định chi tiết hình thức bắt buộc đối với hợp đồng vay tài sản để giảm bớt tranh chấp phát sinh từ thỏa thuận miệng.
  3. Hoàn thiện tiêu chí xác định tư cách tham gia của hộ gia đình; phân định rõ trách nhiệm tài sản của cá nhân chủ hộ và tài sản chung của hộ gia đình khi vay vốn.
  4. Xây dựng hướng dẫn đồng bộ về xử lý nợ liên đới vợ chồng và bảo đảm của bên thứ ba trong quan hệ vay dân sự.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận được hoàn thành vào năm 2018, chỉ sau hơn một năm kể từ thời điểm BLDS năm 2015 có hiệu lực (01/01/2017). Do đó, dung lượng án lệ và thực tiễn xét xử được công bố áp dụng trực tiếp các điều khoản mới còn tương đối hạn chế, chỉ mới khai thác được số ít bản án sơ thẩm tại địa phương (Vĩnh Long, Tây Ninh).

Hướng nghiên cứu tiếp theo cần mở rộng điều tra thực tiễn xét xử trên phạm vi toàn quốc qua nhiều năm áp dụng BLDS năm 2015; đồng thời nghiên cứu sâu hơn về cơ chế kiểm soát tín dụng phi chính thức và mô hình tài chính vi mô nhằm hạn chế tình trạng cho vay nặng lãi biến tướng trong xã hội.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo phù hợp cho sinh viên, học viên chuyên ngành Luật Dân sự và Luật Kinh tế khi nghiên cứu chế định hợp đồng thông dụng. Tài liệu cũng hỗ trợ thiết thực cho những người làm công tác thực tiễn như Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Luật sư và người dân khi giao kết giao dịch vay vốn.

Nội dung có giá trị tham khảo nổi bật bao gồm: bảng đối sánh cơ chế lãi suất giữa BLDS năm 2005 và BLDS năm 2015; công thức chi tiết xác định lãi trong hạn, lãi quá hạn và lãi chậm trả; cùng các phân tích thực tế về tranh chấp tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất trong các bản án năm 2018.

Câu hỏi thường gặp

1. Tác giả chỉ ra điểm thiếu sót nào của định nghĩa Hợp đồng vay tài sản tại Điều 463 BLDS 2015?
Tác giả cho rằng Điều 463 chỉ mới đề cập đến việc giao tài sản mà bỏ qua yếu tố cốt lõi là việc bên cho vay chuyển giao quyền sở hữu đối với tài sản vay cho bên vay, đồng thời chưa nêu rõ khoảng thời gian trả lãi tương ứng với thời hạn vay theo thỏa thuận.

2. Trần lãi suất theo thỏa thuận trong BLDS 2015 khác gì so với BLDS 2005?
BLDS 2005 quy định trần lãi suất thả nổi không vượt quá 150% lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố (tại thời điểm năm 2010 là 0,75%/tháng). Ngược lại, BLDS 2015 áp dụng mức trần cố định không vượt quá 20%/năm của khoản vay và quyền điều chỉnh trần thuộc về Ủy ban Thường vụ Quốc hội theo đề xuất của Chính phủ.

3. Mức lãi suất quá hạn được tính như thế nào theo phân tích trong khóa luận?
Theo điểm b khoản 5 Điều 466 BLDS 2015, lãi suất quá hạn trên nợ gốc được tính bằng 150% mức lãi suất vay theo hợp đồng tương ứng với thời gian chậm trả (trừ trường hợp có thỏa thuận khác). Đối với tiền lãi chậm trả trong hạn, bên vay phải chịu mức lãi suất chậm trả là 10%/năm theo điểm a khoản 5 Điều 466.

4. Trong Bản án số 20/2018/DS-ST của TAND huyện Tam Bình, Tòa án đã phán quyết về mức lãi suất và nghĩa vụ trả nợ ra sao?
Tòa án bác bỏ mức lãi suất thỏa thuận 6%/tháng vì vượt quá quy định pháp luật, chấp thuận yêu cầu tính lãi của nguyên đơn ở mức 1,125%/tháng. Đồng thời, Tòa án căn cứ Điều 27 và Điều 37 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 buộc cả hai vợ chồng bị đơn phải liên đới chịu trách nhiệm thanh toán số nợ gốc 93.800.000 đồng và lãi 11.373.250 đồng vì khoản vay phát sinh trong thời kỳ hôn nhân phục vụ nhu cầu gia đình.

5. Tác giả kiến nghị gì để giải quyết tranh chấp hợp đồng vay có bên vay là hộ gia đình?
Tác giả đề xuất pháp luật phải quy định cụ thể khi nào người đi vay đại diện cho hộ gia đình và khi nào đại diện cho sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng. Nếu là vợ chồng vay thì phải có chữ ký của cả hai người hoặc văn bản ủy quyền hợp lệ; trường hợp không chứng minh được tư cách đại diện thì cá nhân xác lập phải tự chịu trách nhiệm tài sản, không lấy sổ hộ khẩu làm căn cứ ấn định trách nhiệm của hộ gia đình.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Vũ Thị Hồng Minh đã cung cấp cái nhìn toàn diện về chế định hợp đồng vay tài sản theo BLDS năm 2015 trên cả phương diện lý luận và thực tiễn thi hành. Tác giả đã phân tích sâu sắc các quy định mới về trần lãi suất tĩnh 20%/năm, các quyền, nghĩa vụ và những vướng mắc phát sinh từ việc xét xử thực tế các tranh chấp dân sự và tín dụng ngân hàng. Những đóng góp và đề xuất sửa đổi về đối tượng vay, tư cách chủ thể hộ gia đình và hình thức hợp đồng mang tính gợi mở thực tế cao cho công tác lập pháp và áp dụng pháp luật dân sự tại Việt Nam.