Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI VÀ HỢP ĐỒNG NHƯỢNG QUYỀN THƯƠNG MẠI TRONG LĨNH VỰC DỊCH VỤ ĂN UỐNG 1. Khái quát chung về nhượng quyền thương mại và hợp đồng nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực dịch vụ ăn uống 1. Khái niệm về nhượng quyền thương mại và hợp đồng nhượng quyền thương mại Theo nhiều tài liệu nghiên cứu, nhượng quyền thương mại được xuất hiện qua các hình thức sơ khai đầu tiên tại các nước châu Âu vào khoảng thế kỷ 17-18. Năm 1840 các nhà sản xuất bia của Đức cho phép một số quán bia bán sản phẩm của họ.
Tuy nhiên, hoạt động nhượng quyền thương mại chính thức được công nhận là được khởi nguồn và phát triển tại Hoa Kỳ vào thế kỷ 19 khi nhà máy sản xuất máy khâu Singer lần đầu tiên ký kết hợp đồng nhượng quyền thương mại với đối tác của họ vào năm 1851 [15]. Thời gian đầu khi mới xuất hiện, hoạt động nhượng quyền thương mại chỉ đơn giản là hoạt động nhượng quyền phân phối và bán sản phẩm của các nhà sản xuất. Khi đó các nhà phân phối không phải trả bất kỳ khoản phí nhượng quyền nào. Tuy nhiên, sau năm 1945, chiến tranh thế giới thứ 2 kết thúc, hoạt động nhượng quyền thương mại thực sự phát triển mạnh mẽ với sự ra đời và phát triển của hàng loạt nhà hàng, khách sạn và hệ thống kinh doanh, phân phối bán lẻ.
Nhượng quyền thương mại thực sự phát triển mạnh mẽ tại Hoa Kỳ, mang lại sự thành công và niềm tự hào cho nhiều thương hiệu trở thành biểu tượng cho Hoa kỳ như KFC, McDonald’s…Mỹ cũng là quốc gia đầu tiên có các quy định pháp luật cho franchise và có các chính sách ưu đãi cho các cá nhân doanh nghiệp thực hiện kinh doanh theo hình thức franchise. 6 n Nhờ hiệu quả của hoạt động kinh doanh dưới hình thực nhượng quyền thương mại, nhượng quyền thương mại đã phát triển không chỉ ở Mỹ, châu Âu mà còn phát triển mạnh sang các quốc gia châu Á. Ở Việt Nam, hoạt động nhượng quyền thương mại đã xuất hiện từ trước những năm 1975 tuy nhiên mới thực sự phát triển vào vài thập niên gần đây. Mặc dù có lịch sử hình thành và phát triển lâu dài, tuy nhiên vẫn chưa có một định nghĩa cụ thể và thống nhất cho khái niệm nhượng quyền thương mại.
Theo Hiệp hội nhượng quyền thương mại quốc tế - The International Franchise Association đã đưa ra định nghĩa của nhượng quyền thương mại như sau: “Nhượng quyền thương mại là mối quan hệ theo hợp đồng giữa bên giao và bên nhận, theo đó bên giao đề xuất hoặc phải duy trì sự quan tâm liên tục tới doanh nghiệp của bên nhận trên các khía cạnh như bí quyết kinh doanh, đào tạo nhân viên. Bên nhận quyền hoạt động dưới nhãn hiệu hàng hoá, phương thức, phương pháp kinh doanh do bên giao sở hữu hoặc kiểm soát và bên nhận quyền đang và sẽ tiến hành đầu tư đáng kể vốn vào doanh nghiệp bằng nguồn lực của mình." [2] Như vậy, theo quan điểm của Hiệp hội nhượng quyền thương mại quốc tế, nhượng quyền thương mại là mối quan hệ giữa hai bên dựa trên quan hệ hợp đồng, lệ thuộc và có sự ràng về quyền lợi và nghĩa vụ của từng bên. Tại Australia, luật về nhượng quyền thương mại có định nghĩa khá cụ thể về hoạt động nhượng quyền thương mại cũng như quy trình hoạt động của nhượng quyền thương mại và đề cập cụ thể tới khoản phí nhượng quyền “Nhượng quyền thương mại là thoả thuận một bên (bên nhượng quyền) cấp cho bên khác (bên nhận quyền) thực hiện hoạt động đề nghị giao kết hợp đồng, cung cấp hoặc phân phối hàng hoá hoặc dịch vụ trong lãnh thổ Australia theo hệ thống hoặc kế hoạch kinh doanh mà cơ bản được xác định kiểm soát hoặc đề xuất bởi bên nhượng quyền, theo đó: Việc tiến hành hoạt động kinh doanh 7 n được chủ yếu gắn liền với thương hiệu, hoạt động quảng cáo hoặc biểu tượng thương mại của bên nhượng quyền. Trước khi bắt đầu kinh doanh và trong quá trình kinh doanh, bên nhận quyền phải thanh toán cho bên nhượng quyền một khoản chi phí nhượng quyền thương mại” Tại Việt Nam, Nhượng quyền thương mại được quy định tại điều 284 Luật thương mại 2005 như sau [8]: “Nhượng quyền thương mại là hoạt động thương mại theo đó bên nhượng quyền cho phép và yêu cầu bên nhận quyền tự mình tiến hành việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ theo các điều kiện sau: 1.
Việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ được tiến hành theo cách thức tổ chức do bên nhượng quyền quy định và được gắn với nhãn hiệu hàng hoá, tên thương mại, bí quyết kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, quảng cáo của bên nhượng quyền. Bên nhượng quyền có quyền kiểm soát và trợ giúp cho bên nhận quyền trong việc điều hành công việc kinh doanh.” Có thể thấy, theo pháp luật Việt Nam, nhượng quyền thương mại cũng chỉ ra quyền và trách nhiêm của từng bên, bên nhượng quyền và bên nhận quyền, tuy nhiên chưa chỉ rõ ra quan hệ hợp đồng giữa các bên và chi phí nhượng quyền. Tại mỗi quốc gia, mỗi bộ luật lại có quy định định, nghĩa khác nhau về nhượng quyền thương mại, tuy nhiên, nhìn chung có thể thấy điểm nổi bật của nhượng quyền thương mại bao gồm: - Nhượng quyền thương mại là một hoạt động thương mại, được thực hiện bởi ít nhất hai bên chủ thể khác nhau và độc lập với nhau về mặt pháp lý: bên nhượng quyền và bên nhận quyền. Ràng buộc nhau dựa trên quyền lợi và nghĩa vụ trên hợp đồng nhượng quyền thương mại.
8 n - Bên nhận quyền phân phối sản phẩm, cung ứng dịch vụ dưới nhãn hiệu hàng hoá, các đối tượng quyền sở hữu trí tuệ và theo quy trình kỹ thuật do bên nhượng quyền xây dựng và sở hữu - Bên nhận quyền phải thanh toán một khoản phí cho bên nhượng quyền gọi là phí nhượng quyền và chấp nhận các quy định của bên nhượng quyền về hàng hóa, sản phẩm, bài trí cửa hàng…. - Bên nhượng quyền tiến hành cung cấp tài liệu, đào tạo nhân viên, thường xuyên hỗ trợ kỹ thuật cho bên nhận quyền , hai bên có mối quan hệ mật thiết, ràng buộc lẫn nhau trong suốt thời gian nhượng quyền. Một cách đơn giản, có thể hiểu nhượng quyền thương mại cơ bản là một hoạt động thương mại nhằm mở rộng hệ thống, mô hình kinh doanh của thương nhân thông qua việc chia sẻ quyền thương mại, quy trình, bí quyết kinh doanh cho một thương nhân khác. Các bên trong mối quan hệ này, căn cứ trên hệ thống pháp luật cụ thể của từng quốc gia sẽ ràng buộc nhau trên quan hệ Hợp đồng giữa ít nhất hai bên.
Trong đó, bên nhượng quyền đồng ý nhượng cho bên nhận quyền quyền thương mại bao gồm quyền bán, phân phối sản phẩm theo cùng mô hình kinh doanh, nhãn hiệu hàng hóa, dịch vụ, bí quyết kinh doanh… để thu một khoản phí nhượng quyền. Còn bên nhận quyền cần tuân thủ các kế hoạch kinh doanh, nhãn hiệu, quy trình kinh doanh…. do bên nhượng quyền đưa ra. Trong các khái niệm về nhượng quyền thương mại của mỗi quốc gia đều xuất hiện vai trò quan trọng của hợp đồng nhượng quyền thương mại.
Hợp đồng nhượng quyền thương mại là ràng buộc pháp lý về quyền và nghĩa vụ của các bên trong thỏa thuận giao kết về nhượng quyền thương mại. Theo Uỷ ban Thương mại Liên bang Hoa Kỳ (the US Federal Trade commission - FTC) : “Khái niệm một hợp đồng nhượng quyền thương mại là hợp đồng theo đó bên giao [15]: 9 n - hỗ trợ đáng kể cho bên nhận trong việc điều hành doanh nghiệp hoặc kiểm soát chặt chẽ phương pháp điều hành doanh nghiệp của bên nhận - li-xăng nhãn hiệu cho bên nhận để phân phối sản phẩm hoặc dịch vụ theo nhãn hiệu hàng hoá của bên giao và - yêu cầu bên nhận thanh toán cho bên giao một khoản phí tối thiểu” Trong luật dân sự của Nga, Hợp đồng nhượng quyền thương mại được nhắc đến như sau: “Theo hợp đồng nhượng quyền thương mại, một bên (bên có quyền) phải cấp cho bên kia (bên sử dụng) với một khoản thù lao, theo một thời hạn, hay không thời hạn, quyền được sử dụng trong các hoạt động kinh doanh của bên sử dụng một tập hợp các quyền độc quyền của bên có quyền bao gồm, quyền đối với dấu hiệu, chỉ dẫn thương mại, quyền đối với bí mật kinh doanh, các quyền độc quyền theo hợp đồng đối với các đối tượng khác như nhãn hiệu hàng hoá, nhãn hiệu dịch vụ…" Có thể thấy, theo các định nghĩa này, hợp đồng nhượng quyền thương mại bao hàm nhiều đặc điểm của các loại hợp đồng khác nhau. Trong hợp đồng nhượng quyền thương mại chứa đựng những yếu tố của hợp đồng li- xăng, chuyển giao sáng chế, nhãn hiệu hàng hóa, bí quyết kinh doanh. Bên cạnh đó, hợp đồng nhượng quyền thương mại cũng có những điểm tương đồng với hợp đồng chuyển giao công nghệ khi cũng đề cập đến việc bên nhượng quyền phải phải chuyển giao, chỉ dẫn, hướng dẫn cho bên nhận quyền về điều hành, hoạt động doanh nghiệp.
Hơn nữa, còn mang dáng dấp của hợp đồng cung ứng dịch vụ, hàng hóa, đại lý. Còn trong luật thương mại Việt Nam 2005 không quy định cụ thể về khái niệm hợp đồng nhượng quyền thương mại mà chỉ đưa ra hình thức của hợp đồng nhượng quyền thương mại tại điều 285 “Hợp đồng nhượng quyền thương mại phải được lập thành văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương”[8] 10 n Như vậy, có thể hiểu hợp đồng nhượng quyền thương mại là một loại hợp đồng được các thương nhân ký kết trong quá trình thực hiện hoạt động nhượng quyền thương mại. Hợp đồng này cũng phải đáp ứng đầy đủ các yêu cầu chung của hợp đồng được đề cập trong bộ luật dân sự ,là sự thỏa thuận của các bên trong quan hệ nhượng quyền thương mại làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt các quyền và nghĩa vụ của các bên trong hoạt động nhượng quyền và cũng chính là căn cứ, cơ sở để giải quyết tranh chấp có thể sẽ phát sinh giữa các bên trong quá trình thực hiện hợp đồng. Khái niệm, đặc điểm của hợp đồng nhượng quyền thương mại trong lĩnh vực dịch vụ ăn uống Căn cứ vào phạm vi, tính chất quan hệ giữa các bên trong hoạt động nhượng quyền, nhượng quyền thương mại được chia thành 3 loại nhượng quyền sản xuất, nhượng quyền phân phối sản phẩm, nhượng quyền phương pháp kinh doanh.