Chương 1: Cơ sở lý luận về hợp đồng mua bán hàng hóa theo pháp luật Việt Nam. Chương 2:Thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa theo pháp luật Việt Nam. Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM 1.
Khát quát chung về hợp đồng mua bán hàng hóa theo pháp luật Việt Nam 1. Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa 1. Quan niệm về hợp đồng mua bán hàng hóa theo pháp luật Việt Nam Hàng hóa theo nghĩa rộng đƣợc hiểu là sản phẩm lao động của con ngƣời, đƣợc tạo ra nhằm mục đích trao đổi để thỏa mãn những nhu cầu mang tính xã hội. Nhu cầu của con ngƣời rất phong phú và biến thiên liên tục vì vậy hàng hóa luôn phát triển phong phú và đa dạng.
Theo định nghĩa của pháp luật thƣơng mại hiện hành VN thì “Hàng hóa bao gồm tất cả các loại động sản, kể cả bất động sản hình thành trong tƣơng lai, những vật gắn liền với đất đai”(Khoản 2 Điều 3 Luật Thƣơng mại (LTM)). Tại Điều 428 Bộ luật dân sự (BLDS) 2005 có đƣa ra định nghĩa: “Hợp đồng mua bán tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao tài sản cho bên mua và nhận tiền, còn bên mua có nghĩa vụ nhận tài sản và trả tiền cho bên bán. Trong khi đó, Điều 3 LTM 2005 định nghĩa: “mua bán hàng hóa là hoạt động thƣơng mại, theo đó các bên có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hóa theo đúng thỏa thuận”. Đều là định nghĩa về HĐMBHH, nhƣng hai định nghĩa trên có sự khác biệt lớn về một vấn đề pháp lý quan trọng.
BLDS 2005 không đề cập tới nghĩa vụ của ngƣời bán chuyển giao quyền sở hữu tài sản cho ngƣời mua mà chỉ đề cập tới nghĩa vụ của ngƣời bán giao tài sản cho ngƣời mua. Trong khi đó, LTM 2005 đề cập tới nghĩa vụ của ngƣời bán giao hàng hóa và chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho ngƣời mua. Có thể thấy rằng, hợp đồng mua bán tài sản và HĐMBHH có thể khác nhau về đối tƣợng, song không thể khác nhau về bản chất mua bán. Tại Điều 463 và Điều 465 BLDS 2005 có các định nghĩa nhƣ sau: “Hợp đồng trao đổi tài sản là sự thỏa thuận giữa 4 z các bên, theo đó các bên giao tài sản và chuyển quyền sở hữu đối với tài sản cho nhau” và “Hợp đồng tặng cho tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên tặng cho giao tài sản của mình và chuyển quyền sở hữu cho bên đƣợc tặng cho mà không yêu cầu đền bù, còn bên đƣợc tặng cho đồng ý nhận”.
Hợp đồng trao đổi tài sản khác biệt với hợp đồng mua bán ở chỗ thay vì nhận một khoản tiền khi chuyển giao quyền sở hữu tài sản, ngƣời chuyển giao nhận một tài sản khác. Còn đối với hợp đồng tặng cho thì thay vì nhận một lợi ích khi chuyển giao quyền sở hữu một tài sản, ngƣời chuyển giao không nhận gì. Vậy là trong hai loại hợp đồng này nhà làm luật VN đã đề cập đầy đủ việc giao tài sản và chuyển quyền sở hữu tài sản và đã phân biệt dứt khoát giữa “giao tài sản” và “chuyển quyền sở hữu tài sản”. Bản thân BLDS 2005, ngay sau định nghĩa hợp đồng mua bán, có quy định: nếu đối tƣợng của hợp đồng mua bán là vật thì vật phải đƣợc xác định rõ, còn nếu đối tƣợng của hợp đồng mua bán là quyền tài sản thì phải có giấy tờ hoặc bằng chứng khác chứng minh quyền đó thuộc sở hữu của ngƣời bán [Điều 429 BLDS] và thời điểm chuyển giao quyền sở hữu tài sản mua bán là thời điểm giao tài sản.
Nhƣ vậy, quan hệ mua bán hàng hóa đƣợc xác lập và thực hiện thông qua hình thức pháp lý là HĐMBHH. HĐMBHH có bản chất chung của hợp đồng, là sự thỏa thuận nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa vụ trong quan hệ mua bán. Dù là mua bán tài sản trong dân sự hay mua bán hàng hóa trong thƣơng mại thì bản chất của nó cũng không có gì đổi khác mà vẫn có nội dung là: Ngƣời bán phải giao đối tƣợng đƣợc bán và quyền sở hữu đối tƣợng đó cho ngƣời mua và nhận tiền, còn ngƣời mua thì nhận đối tƣợng đƣợc mua và trả tiền. Mặc dù, LTM năm 2005 không đƣa ra định nghĩa về HĐMBHH song có thể xác định bản chất pháp lý của HĐMBHH trong thƣơng mại trên cơ sở quy định của Bộ luật dân sự về hợp đồng mua bán tài sản.
Từ đó, có thể khẳng định HĐMBHH trong thƣơng mại là một dạng cụ thể của hợp đồng mua bán tài sản. Một hợp đồng mua bán chính là sự thỏa thuận về việc mua bán hàng hóa ở hiện tại hoặc mua bán hàng hóa sẽ có ở một thời điểm nào đó trong tƣơng lai, theo đó các bên có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng 5 z hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hóa theo đúng thỏa thuận. Bất cứ khi nào, một ngƣời mua hàng hóa bằng tiền hoặc phƣơng thức thanh toán khác và nhận quyền sở hữu hàng hóa thì khi đó hình thành nên quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa. Quan niệm về hợp đồng mua bán hàng hóa theo pháp luật Quốc tế Theo nguyên tắc, hợp đồng thƣơng mại quốc tế có nội dung tƣơng tự nội dung của hợp đồng thƣơng mại nội địa cùng loại.
Có nghĩa là, hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (HĐMBHHQT) có nội dung tƣơng tự HĐMBHH theo quy định của LTM hay BLDS… LTM 2005 không đƣa ra khái niệm hay định nghĩa HĐMBHHQT mà chỉ quy định các hình thức mua bán hàng hóa quốc tế. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 27, mua bán hàng hóa quốc tế là mua bán hàng hóa đƣợc thực hiện dƣới các hình thức xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập tái xuất, tạm xuất tái nhập và chuyển khẩu[34, tr. Có thể thấy rằng, LTM 2005 chƣa đƣa ra dấu hiệu để xác định tính quốc tế của HĐMBHHQT nhƣng đã quy định các hình thức của nó hay nói cách khác là chƣa trả lời cho ngƣời đọc câu hỏi: Thế nào là HĐMBHHQT. Tuy nhiên, một cách gián tiếp thông qua các quy định tại Điều 28, 29 có thể tìm thấy câu trả lời cho câu hỏi đó.
Khoản 1 Điều 29 quy định rằng, xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hóa đƣợc đƣa ra khỏi lãnh thổ của VN đƣợc coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật. Từ những quy định tại các Điều 28, 29 LTM 2005 có thể hiểu rằng, HĐMBHH đƣợc ký kết giữa doanh nghiệp (DN) hoạt động trên lãnh thổ VN với DN hoạt động trên lãnh thổ nƣớc ngoài hoặc DN nằm trong khu vực đặc biệt dành riêng cho hải quan nằm trên lãnh thổ VN theo pháp luật VN là HĐMBHHQT. Khác với quy định của LTM 1997 và LTM 2005 của VN, pháp luật của nhiều nƣớc cũng nhƣ các văn bản pháp lý của quốc tế điều chỉnh các loại hợp đồng thƣơng mại quốc tế xác định tính quốc tế của hợp đồng thƣơng mại quốc tế dựa trên dấu hiệu lãnh thổ, hay nói chính xác hơn là địa điểm hoạt động thƣơng mại (Place of Business) của thƣơng nhân. Khoa học pháp lý cũng nhƣ pháp luật của nhiều nƣớc hiện nay cũng ủng hộ quan điểm này, theo đó hợp đồng thƣơng mại quốc tế là hợp 6 z đồng thƣơng mại đƣợc ký kết bởi các bên có trụ sở thƣơng mại nằm trên lãnh thổ của các quốc gia khác nhau.
Theo Công ƣớc La Haye năm 1964 về luâ ̣t thố ng nhấ t về mua bán hàng hóa quố c tế (Convention relating to a Uniform Law on the International Sale of Goods ) thì HĐMBHHQT là HĐMBHH đƣơ ̣c ký kế t giƣ̃a các bên có tru ̣ sở thƣơng ma ̣i đóng trên lañ h thổ các quố c gia khác nhau nế u có thêm mô ̣t trong các điề u kiê ̣n sau : Thƣ́ nhấ t, hơ ̣p đồ ng liên quan đế n vâ ̣t mà trong thời gian ký kế t hơ ̣p đồ ng vâ ̣t đó đƣơ ̣c chuyên chở hoă ̣c phải đƣơ ̣c chuyên chở tƣ̀ lañ h thổ của quố c gia này đến lãnh thổ của quốc gia khác; Thƣ́ hai, hành vi chào hàng và hành vi chấp nhận chào hàng đƣợc thực hiện trên lañ h thổ của các quố c gia khác nhau; Thƣ́ ba, viê ̣c giao hàng đƣơ ̣c thƣ̣c hiê ̣n trên lañ h thổ của mô ̣t quố c gia khác với quố c gia nơi tiế n hành hành vi chào hàng hoă ̣c hành vi chấ p nhâ ̣n chào hàng[Điều 1 PL HĐKT]. Khác với Công ƣớc L a Haye 1964, Công ƣớc Viên 1980 của Liên Hợp Quốc về HĐMBHHQT (United Nations Convention on Contracts for the International Sale of Goods ) không đƣa ra đinh ̣ nghiã nào về HĐMBHHQT, mà chỉ đƣa ra một tiêu chuẩ n để khẳ ng đinh ̣ tiń h quố c tế c ủa HĐMBHHQT. Điề u 1 Công ƣớc qui đinh: ̣ “1. Công ƣớc này áp du ̣ng cho các HĐMBHH giƣ̃a các bên có tru ̣ sở thƣơng mại tại các quốc gia khác nhau: Khi các quố c gia này là các quố c gia thành viên của Công ƣớc hoă ̣c , Khi theo các quy t ắc tƣ pháp quốc tế thì luật đƣợc áp dụng là luật của nƣớc thành viên Công ƣớc này.
Sƣ̣ kiê ̣n các bên có tru ̣ sở thƣơng ma ̣i ta ̣i các quố c gia khác nhau không tính đến nếu sự kiện này không xuất phát từ hợp đồng , tƣ̀ các mố i quan hê ̣ đã hin ̀ h thành hoặc vào thời điểm ký hợp đồng giữa các bên hoặc là từ việc trao đổi thông tin giƣ̃a các bên. Quố c tich ̣ của các bên , quy chế dân sƣ̣ hoă ̣c thƣơng ma ̣i của ho ̣ , tính chất dân sƣ̣ hay thƣơng ma ̣i của hơ ̣p đồ ng không đƣơ ̣c xét tới khi xác đinh ̣ pha ̣m vi áp dụng của Công ƣớc này”. Nhƣ vâ ̣y, qua Điề u 1 Công ƣớc Viên 1980, ta có thể hiể u rằ ng , chủ thể của hơ ̣p đồ ng là các bên có tru ̣ sở ở các nƣớc khác nhau đƣơ ̣c coi là dấ u hi ệu xác định yế u tố nƣớc ngoài trong quan hê ̣ hơ ̣p đồ ng .